Tượng thờ dân gian Nam Bộ là sự thể hiện biểu tượng về mặt tín ngưỡng và tôn giáo trong bộ phận cư dân Nam Bộ
NHỮNG VẺ ĐẸP CỦA ĐỒ GỐM VIỆT NAM
Trong nhiều
năm qua, song song với việc khuyến khích các văn nghệ sĩ sáng tác, Đảng và Nhà
nước ta rất quan tâm đến vấn đề nghiên cứu nghệ thuật cổ Việt Nam nhằm tạo lập
nên một nền hiện vật cũng như lý luận cho nghệ thuật Việt Nam.
Chúng tôi nghĩ
rằng việc thành lập Viện Mỹ thuật – Mỹ nghệ cách đây hai mươi năm (1966 – 1986)
là bước đầu của sự quan tâm cụ thể đó.
Là một người
sáng tác đồ gốm và hội họa, chúng tôi rất quan tâm đến những thành tựu của Viện
trong 20 năm qua, trân trọng các bài nghiên cứu nghệ thuật qua các Tạp chí mỹ
thuật của Viện và tạp chí nghiên cứu nghệ thuật sau này. Chúng tôi hoan nghênh
các tập Mỹ thuật Lý, Mỹ thuật Trần, Mỹ thuật Lê Sơ và tập Nghệ thuật chạm khắc
cổ Việt Nam qua các bản rập của Viện ấn hành.
Có thể nói,
những nghiên cứu đó là những viên gạch đầu tiên xây dựng một hệ thống những vấn
đề của mỹ thuật cổ Việt Nam. Đó là những thành công đáng kể có tác dụng đối với
các nhà nghiên cứu và sáng tác.
Thông qua việc
nghiên cứu nền mỹ thuật cổ Việt Nam, chúng ta đã bước đầu trang bị được những
kiến thức cơ bản và lấp bớt được những lỗ hổng lớn về vấn đề này, bước đầu tạo
dựng được một gương mặt đa dạng, phong phú của nghệ thuật dân tộc. Tuy nhiên, nó
mới chỉ là bước đầu, bởi vì những vấn đề nghiên cứu đó còn tản mạng mang nhiều
tính tư liệu, khảo tả, chưa tạo dựng được một cái gì đó hoàn hảo, có lý luận và
đúc kết thành những đặc điểm, đặc trưng lớn. Vì vậy, chặng đường tiến tới của
các nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ Việt Nam còn rất rộng và dài, đòi hỏi chúng ta
phải tổ chức chu đáo và phải có nỗ lực cao hơn của nhiều người trong nhiều lĩnh
vực mà theo tôi Viện nghiên cứu mỹ thuật nên tự mình xây dựng thành một trung
tâm tập hợp các lực lượng nghiên cứu đó.
Nghiên cứu mỹ
thuật cổ Việt Nam là một vấn đề khá phức tạp bởi với những đặc trưng về thiên
nhiên, khí hậu khắc nghiệt, những cuộc chiến tranh chống xâm lược và sự tàn phá
của bọn xâm lược đã phá hủy của chúng ta rất nhiều hiện vật quý, đã thế thư tịch
cổ lại quá ít (bởi cũng bị bọn xâm lược với chủ trương triệt phá nền văn hóa dân
tộc Việt đốt và cướp đi). Rõ ràng, chúng ta không có một nền tảng cũ để nghiên
cứu tiếp, mà phải làm từ đầu, từ khâu tư liệu đến nghiên cứu tập hợp và viết nó,
do đó không tránh khỏi những bài viết còn sơ sài hoặc thiếu sót.
Nghiên cứu mỹ
thuật cổ Việt Nam, trên thực tế chúng ta còn có thể dựa vào các hiện vật của ông
cha ta trên các chất liệu: đồ gốm, đồ đá, đồ đồng, đồ gỗ, những sản phẩm mỹ nghệ
dân gian, tranh thờ, tranh dân gian và rất ít tranh lụa, nhưng niên đại không
phải là xa lắm.
Có thể nói,
ngành Hội họa và Điêu khắc của chúng ta có không nhiều hiện vật, nên phải dựa
vào mảng đồ thực dụng và kiến trúc để soi sáng các vấn đề khác. Phải chăng, đây
là một đặc điểm khi nghiên cứu mỹ thuật cổ Việt Nam?
Và theo cách
nghĩ đó, thì đồ gốm không phải chỉ là “chữ cái” để nghiên cứu lịch sử như các
nhà khảo cổ, lịch sử vẫn nói, mà đồ gốm còn là một đối tượng cơ bản để ta nghiên
cứu mỹ thuật cổ Việt Nam.
Ngoài những
vấn đề kỹ thuật có thể nghiên cứu trên đồ gốm, chúng ta có thể nghiên cứu trên
nhiều vấn khác như:
- Nền văn hóa
dân tộc và đặc trưng thẩm mỹ dân tộc Việt Nam.
- Mối quan hệ
của gốm với các loại hình khác như nghệ thuật Điêu khắc, Hội họa.
- Mối quan hệ
và sự đóng góp của nghệ thuật gốm trong nghệ thuật kiến trúc Việt Nam.
- Mối quan hệ
giữa nghệ thuật gốm và nghệ thuật đồ đồng.
- Vấn đề tiếp
thu vốn cổ và tiếp thu vốn nước ngoài qua các giai đoạn phát triển của đồ gốm…
Ngay trong
nghệ thuật gốm, cũng đã có không ít những bài nghiên cứu về khía cạnh này hai
khía cạnh khác của nó như các bài nghiên cứu của Nguyễn Văn Y, Trần Quốc Vượng,
Hà Văn Tấn, Trần Khánh Chương, Nguyễn Bá Vân, Nguyễn Bích… đăng trên các Tạp chí
Nghiên cứu nghệ thuật, Khảo cổ học, Mỹ thuật…
Để góp phần
nghiên cứu mỹ thuật cổ từ góc độ nghiên cứu đồ gốm, hôm nay tôi xin trình bày
một chuyên đề nghiên cứu có tính chất khái quát về môn nghệ thuật này. Đó là vấn
đề “Nghệ thuật gốm Việt Nam” hay còn gọi là: “Những vẻ đẹp của đồ gốm Việt Nam”.
Đồ
gốm là một loại đồ dùng rất phổ biến và gần gũi trong đời sống của nhân dân ta.
Ở mọi thời đại, ở mọi gia đình nó luôn luôn có mặt và phục vụ đắc lực cho cuộc
sống, từ đồ để ăn, uống, chứa đựng, đến những sản phẩm phục vụ cho đời sống tinh
thần như tượng trang trí, lọ hoa, phù điêu, tranh gốm; phục vụ tín ngưỡng
như lư hương, chân đèn...
và cho cả những công trình kiến trúc của dân tộc như gạch chạm
đắp nổi, gạch thủng, ngói… Ngay bây giờ và cả sau này, dù có nhiều chất liệu
khác thì vị trí của đồ gốm trong đời sống cũng không bị thay thế hoặc suy giảm.
Đồ gốm không
những là đồ dùng mà còn là những hiện vật ghi nhận cuộc sống, tư duy linh cảm,
năng khiếu thẩm mỹ cũng như sự phát triển kỹ thuật sản xuất và sự phát triển của
xã hội. Ở những thời kỳ khác nhau, nghệ thuật đồ gốm đều mang những dấu ấn của
thời đại, tạo nên những đặc điểm nghệ thuật gốm riêng, phong phú, đậm đà bản sắc
dân tộc.
Theo các tài
liệu của các nhà khảo cổ học thì gốm nước ta xuất hiện cách đây gần một vạn năm,
nhưng phát triển mạnh vào cuối thời đại đồ đá mới, chuyển sang đồ đồng, với
những đồ gốm đất nung có hình dáng đẹp và hoa văn hình học đa dạng, phong phú.
Thế kỷ XI,
bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc, thì nghệ thuật gốm Việt Nam có những phát
triển mới vượt bậc, nổi tiếng như các loại gốm sành xốp, sành trắng hoa nâu, men
ngọc, gốm chạm đắp nổi thời Lý – Trần và sau này là gốm hoa lam thời Lê – Mạc.
Gần đây sự xuất hiện của đồ sứ và nghệ thuật đa dạng của nó làm phong phú thêm
kho tàng nghệ thuật gốm Việt Nam.
Có thể nói cho
đến nay, gốm Việt Nam có đầy đủ các loại chất liệu bao gồm 5 loại cơ bản: 1. Đất
nung, 2.Sành nâu, 3.Sành xốp, 4.Sành trắng, 5.Đồ sứ. Cả năm loại này tuy chủ yếu
đều được làm từ đất và qua lửa, nhưng với những loại đất khác nhau và lò nung
khác nhau đã tạo nên những đặc trưng riêng biệt, điều này không phải ở gốm nước
nào hiện nay cũng có đủ như vậy.
Ngoài ý nghĩa
thực dụng, đồ gốm còn được thưởng thức như là một tác phẩm nghệ thuật hoàn
chỉnh. Nó có vị trí xứng đáng ở Bảo tàng Mỹ thuật và các Bảo tàng khác, nhiều
nhà nghiên cứu viết bài giới thiệu, ca ngợi đồ gốm và nêu lên những dẫn chứng cụ
thể và sự ca ngợi đồ gốm nước ta của nhiều tác giả nước ngoài. Đặc biệt, để chào
mừng đại hội lần thứ IV của Đảng, năm 1976, Viện Bảo tàng Mỹ thuật đã tổ chức
trưng bày chuyên đề về nghệ thuật gốm Việt Nam, với hơn 500 hiện vật được sưu
tầm trong toàn quốc mà phần lớn là những đồ gốm cổ và gốm dân gian qua các thời
kỳ phát triển, sự triển khai bước đầu đó đã cho chúng ta những ấn tượng mạnh mẽ
và tốt đẹp về gốm Việt Nam.
Vấn đề đặt ra
là nghệ thuật gốm Việt Nam có những đặc điểm gì tiêu biểu để có được sự đánh giá
cao? Và chúng ta nên thưởng thức nghệ thuật gốm như thế nào?
Như trên đã
nói đồ gốm là một từ chung nhất để gọi các loại sản phẩm được làm bằng đất và
phải nung qua lửa mới có thể sử dụng được. Kỹ thuật gốm đất nung (tàqus), gốm
sành nâu (grès), gốm sành xốp (đồ đàn, faience), gốm sành trắng (Pocteries, sành
cứng, bán sành sứ) và đồ sứ (Pótcelaine) tuy gọi chung là gốm nhưng không hoàn
toàn giống nhau, đặc biệt là chất đất và nhiệt độ nung. Thực ra các tên gọi như
trên hiện chưa thật thống nhất. Chẳng hạn như phần trên những từ trong ngoặc
đang là những tên gọi khác của nó. Tuy nhiên, để thưởng thức nghệ thuật gốm Việt
Nam thì chúng ta không thể phân biệt chúng một cách tương đối, bởi ngoài những
cái chung thì những đặc điểm riêng về kỹ thuật sản xuất và chất liệu đất, lò
nung không giống nhau đã tạo nên những nét riêng về nghệ thuật tạo dáng, trang
trí, men của gốm này mà gốm khác không bắt chước được.
Ta sẽ không
thỏa mãn và thiên lệch, thất vọng nếu cứ lấy một số tiêu chuẩn nhất định nào đó
để đánh giá vẻ đẹp của mọi loại gốm. Chính vì vậy việc phân chia gốm ra 5 loại
khác nhau sẽ giúp chúng ta hiểu đúng nghệ thuật gốm. Nhưng dù thế nào, trước hết
chúng ta cũng phải đi vào những nét chung nhất, những nét tiêu biểu, bao trùm
tất cả các loại đồ gốm Việt Nam.
Phải nói ngay
rằng gốm Việt Nam có nguồn gốc lâu đời, có truyền thống và phát triển toàn diện
với nghệ thuật giản dị, mộc mạc, chắc khỏe rất đồng đều, mang đậm nét dân gian
và tính dân tộc. Không những về mặt nghệ thuật từ hình dáng, trang trí mà ngay
cả trong kỹ thuật sản xuất. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật và kỹ thuật
trên nhiều sản phẩm tạo nên những vẻ độc đáo, khó mà phân biệt do tác động của
nghệ thuật hay kỹ thuật. Đặc điểm dân gian và dân tộc không những thấm sâu, bộc
lộ rõ nét trên đồ gốm trong gia đình, trong kiến trúc mà ngay cả trong những đồ
gốm cao cấp phục vụ cho tầng lớp trên và những đồ thờ cúng.
Đồ gốm Việt
Nam với đặc điểm cơ bản của đồ gốm Châu Á, mang tính nhào nặn nhuần nhuyễn đã
tạo nên cái quý của chất liệu gốm mà nhiều loại sản phẩm thuộc chất liệu khác
khó lòng bắt chước.
Người thưởng
thức vẻ đẹp của đồ gốm thường thú vị với những phát hiện độc đáo của sự kết hợp
những yếu tố của vẻ đẹp điêu khắc với những yếu tố của vẻ đẹp trong hội họa.
Người làm gốm có một môi trường rộng lớn để có thể biểu hiện mọi tài năng của
mình trong lĩnh vực nghệ thuật trang trí, hội họa, điêu khắc, trong lĩnh vực
xương đất, men, mầu, lò nung để tạo nên những sản phẩm có nhiều ưu điểm của các
yếu tố nói trên.
Vẻ
đẹp của đồ gốm Việt Nam thường được thể hiện trên ba yếu tố hình dáng sản phẩm,
nội dung và phong cách trang trí hoa văn và men mầu.
Ở mỗi loại khác
nhau, có thể mặt này được chú ý hơn mặt kia, để tạo nên những loại gốm có đặc
điểm vẻ đẹp riêng như gốm đất nung, gốm hoa nâu, gốm men ngọc, gốm hoa lam…
Trong nghệ
thuật gốm, thì hình dáng sản phẩm hết sức quan trọng, nó là cái cốt lõi của sản
phẩm, chưa có nó thì chưa có sản phẩm. Nó là cơ sở để cho các hình thức trang
trí, các thủ pháp nghệ thuật, sắc độ men hiện lên vẻ đẹp dịu dàng, sâu kín tác
động. Hình dáng của gốm là sự kết hợp nét và khối trong điêu khắc, khối gợi
đường nét, kết hợp nhiều khối tạo ra hình dáng. Chính vì vậy ở rất nhiều sản
phẩm chỉ với hình dáng chắc khỏe, hài hòa, cân đối cũng đã cho ta sự rung cảm,
mến yêu. Đặc biệt với lối tạo hình trên bàn xoay và sự tác động trực tiếp của
đôi bàn tay người thợ gốm – những nghệ sĩ tạo hình – điêu luyện thì từ cục đất
đã trở thành một hình tượng nghệ thuật có sức sống, có hồn, mang tâm tư, tình
cảm của con người. Sự phóng túng trên bàn vuốt đã tự nó gạt bỏ đi những gì cầu
kỳ, rắc rối trên sản phẩm.
Ở tất cả các
loại gốm nước ta thường thấy sử dụng các hoa văn với nội dung gần gũi cuộc sống,
con người và thiên nhiên Việt Nam, với lối thể hiện giản dị, chắt lọc theo lối
tả ý nhiều hơn là sự sao chép thiên nhiên, với phong cách bố cục thoáng, nêu bật
chủ đề và rất ăn nhập với hình dáng sản phẩm. Đặc biệt là luôn giữ vững và phát
triển đa dạng lối trang trí theo nhiều dải đồ án chạy quanh thân sản phẩm có
truyền thống từ gốm đất nung. Nhìn vào trang trí đồ gốm qua từng thời kỳ ta còn
thấy nó có những nét riêng biệt khác nhau ăn nhịp với nền văn hóa chung của thời
đại đó, ví như gốm đất nung họa tiết có phong cách gần gũi với họa tiết trên đồ
đồng, gốm men ngọc, hoa lá gần gũi với hoa văn chạm trên đá thời Lý – Trần, gốm
hoa lam hòa cùng phong cách chạm gỗ đình làng rất phát triển sau này…
Men trên đồ
gốm Việt Nam phần lớn được làm từ khoáng vật tự nhiên, màu sắc phát ra ngay từ
bản thân các ô xít nằm sẵn trong đất đá và màu sắc được điều khiển bằng nhiệt độ
của lò nung. Nhiều loại gốm có men trong dày như gốm men ngọc mát mẻ, sâu thẳm,
phủ lên họa tiết chạm khắc chìm làm cho chúng ẩn hiện lung linh, xem không chán
mắt, sờ lại mát tay mà gõ lên sản phẩm tiếng kêu thanh nhẹ tai. Nếu so với gốm
Châu Âu thì gốm men màu lửa cao của ta có rất sớm, vì mãi đến thể kỷ XVII ở Pháp
mới tìm được một số men màu lửa cao góp phần làm thay đổi bộ mặt men Châu Âu với
truyền thống gốm men pha thiếc trắng đục, tạo nên sản phẩm faience (loại men này
trắng đục không có độ sâu óng chuốt.
Đặc biệt, men
màu luôn luôn được sử dụng hợp lý với màu sắc của hoa văn, gốm hoa nâu họa tiết
nâu đậm đà trên nền men vàng ngà, còn gốm hoa lam lại có màu men trắng xanh để
cho họa tiết lam hòa vào khoa sắc.
Cũng cần phải
nói thêm rằng gốm Việt Nam có cái chung của gốm Đông Nam Á bao gồm cả Trung
Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Thái Lan, Philippin… Ta có thể tìm thấy sự tương
đồng trong phong cách và hoa văn trang trí ở một số loại gốm, tuy nhiên nó không
phải là sự giống nhau theo lối rập khuôn, mà nếu đem so sánh ta sẽ thấy sự khác
nhau rất dễ thấy giữa đặc trưng tạo dáng, đến nội dung hoa văn, phong cách trang
trí… Nói lên điều này để ta thấy rõ mối ảnh hưởng qua lại giữa các nước trong
sản xuất nghệ thuật gốm, nhưng cũng không phải vì vậy mà cho rằng một số gốm đẹp
của ta đều là gốm Tống hay Minh, Thanh…
Một số nét kể
trên cũng chưa tạo nên được bức tranh sinh động và toàn cục về nghệ thuật gốm
Việt Nam, bởi nó rất đa dạng và phong phú, vì vậy ở phần tiếp đây chúng tôi sẽ
đi sâu vào một số nét riêng biệt của các loại gốm khác nhau tương đối tiêu biểu
của gốm Việt Nam. Chúng tôi sẽ đi lần lượt theo thời gian với sự xuất hiện sớm
muộn của chúng.
Trước hết hãy
đi vào nghiên cứu nghệ thuật gốm đất nung.
Đồ gốm đất
nung là loại gốm ra đời đầu tiên trong họ hàng nhà gốm, nó có tuổi đời cao nhất
và là cơ sở của các loại gốm khác phát triển. Ra đời cách đây gần một vạn năm,
nhưng cho đến ngày nay nó vẫn là một loại sản phẩm phục vụ nhiều mặt của đời
sống xã hội. Đồ gốm đất nung thường tạo ra các sản phẩm phục vụ việc đun nấu và
chứa đựng, sau này nó phục vụ đắc lực cho các công trình kiến trúc nữa.
Nguyên liệu
chính để sản xuất gốm đất nung là đất sét thường có ở khắp nơi trong nước, cách
thành hình và nung cũng đơn giản, nhiệt độ nung thấp (khoảng từ 600o
– 900o).
Đồ gốm đất
nung được sản xuất ở các cơ sở gắn liền với nông nghiệp, vì vậy nó mang trong
mình phong cách dân gian: giản dị, mộc mạc nhưng gợi cảm về tạo dáng, hoa văn
trang trí kỷ hà đơn giản, phóng khoáng nhưng khá đa dạng.
Ngày nay một
số đồ gốm đất nung sử dụng men mầu nhẹ lửa, bắt chước cách trang trí trên gốm
sành trắng… Tuy nhiên vẻ đẹp truyền thống của đồ gốm đất nung không phải ở yếu
tố men mầu mà chính là ở hai yếu tố tạo dáng và trang trí hoa văn vẽ nét chìm
rất đa dạng. Có thể nói đặc trưng vẻ đẹp của đồ gốm đất nung là đặc trưng vẻ đẹp
của điêu khắc.
Tiêu biểu cho
nghệ thuật gốm đất nung, phải kể đến gốm đất nung ở các di chỉ Phùng Nguyên,
Đồng Đậu, Gò Mun, Việt Tiến… ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, gốm đất nung Sa
Huỳnh ở Nam Trung Bộ, hoặc ở đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Tuy kỹ thuật,
chất liệu không bằng gốm đất nung ngày nay nhưng về mặt nghệ thuật tạo dáng và
trang trí thì gốm đất nung chưa bao giờ đẹp bằng gốm của các thời kỳ đó.
Về mặt tạo
hình, gốm đất nung được vuốt bằng bàn xoay phóng túng, tuy còn hơi thô nhưng rất
phong phú về hình dáng, đẹp và có hồn. Các sản phẩm phần lớn được tạo bằng thể
chính là phần lớn nhất, phần thân của sản phẩm và thể phụ gồm miệng và đế sản
phẩm, rất ít dùng thể phụ thêm đơn thuần trang trí, điều đó càng chứng tỏ tạo
dáng gốm đất nung bán sát yêu cầu thực dụng và từ thực dụng mà có được hình dáng
đa dạng. Ngoài một số hình dáng cơ bản ảnh hưởng đến các loại gốm sau này và tồn
tại đến ngày nay, ta còn thấy trước đây có những hình dáng rất độc đáo và hiếm
thấy như nồi miệng loe, bình có quai xách, bình có hai vai…
Về trang trí,
gốm đất nung chủ yếu là sử dụng các hoa văn hình học, lấy nét chìm làm phương
tiện thể hiện chính. Có thể nói hoa văn trang trí trên gốm đất nung là một kho
tàng hoa văn hình học rất phong phú và đa dạng trong nghệ thuật trang trí của
nước ta, bên cạnh kho tàng hoa văn hình học trên đồ đồng, trên thổ cẩm và y phục
các dân tộc ít người. Tiêu biểu là các loại hoa văn hình vuông, tròn, hình thoi,
sóng nước, chữ S, vòng tròn đồng tâm và cả những hoa văn gần với nan đan như nan
thúng, nan chiếu…
Các hoa văn
này được thể hiện lên sản phẩm bằng các phương pháp vẽ nét chìm, ấn, chải, đập…
Khi gốm còn ướt hoặc hơi khô và thường được thể hiện trực tiếp vào sản phẩm theo
trí nhớ và thói quen chứ không theo nét rập hoặc in nháp trước. Tuy nhiên, ở mỗi
vùng, gốm đất nung thường được trang trí phổ biến một số loại hoa văn nhất định
như ở Phùng Nguyên với các biến thể của hoa văn chữ S, ở Gò Mun là những chấm
tròn kết hợp với các nét gạch ngắn, còn ở Đồng Đậu thì hoa văn sóng nước hay còn
gọi là hoa văn khuông nhạc lại phát triển hết sức đa dạng… và điều đó tạo nên
những hoa văn truyền thống, tiêu biểu cho mỗi cơ sở và làm cho mảng hoa văn hình
học càng thên phong phú.
Các trang trí
thường được sắp xếp thành những dải đồ án hoa văn theo lối nhắc lại các mô típ:
nhắc lại đối đầu hoặc nhắc lại xen kẽ tạo nên nhịp điệu riêng của từng đồ án.
Các đồ án này lại được trang trí trên thân sản phẩm thành một vòng tròn nối liền
nhau. Người ta thường áp dụng lối trang trí trên một sản phẩm có nhiều dải đồ án
với một đồ án chính và nhiều đồ án phụ nhỏ hơn, đăng đối nhau qua trục là đồ án
chính, hay nói một cách khác thì trên và dưới đồ án chính đều có các đồ án phụ
thường là giống nhau, thảng hoặc kết hợp trang trí các đồ án ngang với các đồ án
dọc theo chiều thẳng đứng của thân. Phương pháp bố cục trang trí này đã có ảnh
hưởng lớn đến bố cục trang trí trên đồ đồng và trên đồ gốm hoa nâu và hoa lam
sau này.
Với đặc điểm
trang trí bằng nét vẽ chìm, không có mầu, men và vẽ trực tiếp lên sản phẩm còn
ướt nên hoa văn hình học trên đồ gốm đất nung sử dụng phối hợp khá thành thạo và
thông minh các nét để tạo nên sự sinh động và độ đậm nhạt cho dải đồ án. Việc sử
dụng nét được nâng lên như một nghệ thuật điêu luyện với sự sử dụng nét to, nét
nhỏ, nét ngắn, nét dài khác nhau, việc bố trí, sắp xếp nhiều hay ít nét trên một
họa tiết, sự sắp xếp chiều khác nhau của các nét đó. Hiệu quả bắt sáng và cản
sáng của nét chìm có chiều hướng khác nhau đã tạo nên độ đậm nhạt và sự sinh
động của các họa tiết trên dải đồ án. Mà ta biết rằng độ sáng, tối, đậm nhạt
trên đồ án trang trí không sử dụng màu có tác dụng tương tự như các màu sắc
trong các trang trí có màu vậy. Đây là một đặc điểm cơ bản của nghệ thuật trang
trí trên đồ gốm đất nung.
Thưởng thức
nghệ thuật gốm đất nung là thưởng thức vẻ đẹp của hình khối và đường nét của
nghệ thuật điêu khắc, gần gũi với ngôn ngữ điêu khắc mang đặc điểm không sử dụng
men mầu. Nói một cách khác, vẻ đẹp của gốm đất nung chính là ở hình khối chắc
khỏe, mộc mạc, thông qua sự rung cảm nghệ thuật của đôi bàn tay và óc thẩm mỹ
của người thợ, người nghệ sĩ đã trực tiếp sáng tạo ra nó, thông qua việc sử dụng
các đồ án, hoa văn hình học phong phú, đặt đúng chỗ trên hình khối và sự biến
hóa, bắt sáng của các họa tiết hình học đó. Chất xốp, chất thô mộc của sản phẩm
đã là các nền rất cho lối trang trí nét chìm trực tiếp, tùy hứng của người trang
trí. Nhìn vào gốm đất nung cổ với những hoa văn văn học đa dạng và chính xác cho
ta thêm khâm phục tư duy khoa học và tư duy thẩm mỹ của ông cha ta hàng nghìn
năm trước.
Bước phát
triển cao hơn của gốm đất nung về mặt kỹ thuật là đồ gốm sành nâu, chủ yếu được
dùng cho các sản phẩm chứa dựng như chum, vại, ang, hũ.. phần lớn các sản phẩm
này có kích thước rất lớn, có nước da phía ngoài nâu sẫm hơn bóng mặt và sau này
còn được tráng men da lươn theo lối tạo mảng men. Về mặt hình dáng, gốm sành nâu
thường ở dạng hình ống hoặc phình bụng, ít có chân đế riêng tạo hình đơn giản
nhưng vững chãi, khỏe. Trừ một số gốm sành nâu có tráng men và vẽ hoa trang trí
nét chìm trên lớp men của những thế kỷ gần đây, còn phần lớn gốm sành nâu đều
được trang trí đơn giản và hoa văn cũng không khác với gốm sành nâu trước đó;
mặt khác, hoa văn khuông nhạc có vẻ được sử dụng phổ biến hơn. Có thể nói trang
trí trên gốm sành nâu là sự kế thừa gốm đất nung chưa có sự thay đổi gì về phong
cách mô típ và thủ pháp trang trí, mặc dù trên một số đồ gốm đất nung ở các thời
Lê – Mạc – Nguyễn đã có nhiều sản phẩm được trang trí tỉ mỉ, đặc biệt là dán
thêm nhiều hoa văn đắp nổi.
Sau đồ gốm đất
nung và sành nâu, phải kể đến loại đồ gốm sành xốp có từ thời Bắc thuộc và rất
phát triển ở thời Lý, Trần. Loại sản phẩm này khác với đồ gốm đất nung và sành
nâu ở chỗ nó được sản xuất bằng đất sét trắng hoặc cao lanh trắng, được tráng
men và nung ở nhiệt độ cao (1.200 – 1.250oC). Đây là loại gốm mang
trên mình đầy đủ ba yếu tố: hình dáng, hoa văn trang trí và men, mầu, những yếu
tố tạo nên vẻ đẹp của đồ gốm nói chung. Tiêu biểu cho gồm sành xốp là gốm hoa
nâu và gốm chạm đắp nổi thời Lý – Trần. Nó có thể ra đời trước thế kỷ XI nhưng
phải từ thế kỷ XI về sau, mới phát triển mạnh mẽ và đạt tới đỉnh cao nghệ thuật.
Nếu ở gốm đất
nung, phần lớn là các loại đồ đun nấu, đồ đựng nhỏ thì ở gốm hoa nâu ta lại thấy
phát triển nhiều loại đồ chứa đựng có kích thước lớn như thạp, liễn, ấm, bát đĩa
to… Hình dáng gốm hoa nâu bề thế, cân đối và vững chắc. Phần lớn thạp, liễn đều
được tạo theo hình ống. Ấm, chén, bát đĩa hình dáng lại gần gũi với hình hoa quả
trong thiên nhiên. Đặc điểm của hình dáng trên rất phù hợp với lối trang trí
mảng ta, nền thoáng trông vừa chắc khỏe, vừa đậm đà.
Nói chung gốm
Lý – Trần về hình dáng đã sử dụng khá hoàn chỉnh cả thể chính, thể phụ và thể
phụ thêm. Thể chính được tạo bằng đường cong hoặc hơi cong liên tục, ít hoặc
không bị gẫy khúc, thể phụ được sử dụng vừa phải làm tôn được thể chính, không
lấn át thể chính và thể phục thêm đã được sử dụng rộng rãi hơn, có khi chỉ xuất
phát từ yêu cầu trang trí.
Nếu trang trí
trên gốm đất nung chủ yếu là hoa văn hình học, thì ở gốm hoa nâu đã có những
bước chuyển biến mới cả về nội dung hoa văn và phương pháp thể hiện. Nhìn chung
gốm hoa nâu có đặc điểm trang trí tự do với những mảng họa tiết to, nền thoáng,
họa tiết đơn giản, chắt lọc, nội dung hoa văn gần gũi với hiện thực cuộc sống,
phần nào phản ánh được thiên nhiên, đất nước và con người Việt Nam đương thời.
Hoa lá là đề
tài trang trí chủ yếu trên các loại đồ gốm Lý – Trần. Trong đó gốm hoa nâu chiếm
phần lớn. Ta thấy có hoa sen, hoa cúc, hoa thị, hoa chanh…Ngoài ra còn các loại
thú như voi, hổ; các loại chim; gà thước, các loại động vật dưới nước như cá
chép, cá mương, tôm… Tuy rất hiếm, nhưng hình ảnh con người cũng được tái tạo.
Hoa văn trang
trí thường gặp trên gốm hoa nâu là hoa sen, hoa cúc được cách điệu thành nhiều
mẫu đẹp, độc đáo. Hoa lá được nối thành những đồ án dây mềm mại hoặc thành bố
cục rời trong ô, điều này không thấy trong các đồ gốm trước nó.
Hai người đấu
võ trên thạp gốm hoa nâu khá độc đáo và sinh động, nó là một ô họa tiết trang
trí trong số ba ô quanh thạp mà người ta cho rằng hai ô còn lại là hình ảnh
người cưỡi voi và bắn cung. Con người được tạo thành mô típ trang trí khá nhuần
nhuyễn.
Những nội dung
trang trí trên, là những hình ảnh quen thuộc, được tái tạo thành những họa tiết
không câu nệ, sao chép thiên nhiên, mà tất cả đều được nghệ thuật hóa mang tính
tranh trí cao, người vẽ đã bắt lấy cái thần của sự vật bằng những nét chu vi
chọn lọc điển hình, sinh động và có hồn.
Đặc biệt, mọi
họa tiết trang trí dù là hoa lá, động vật, hay con người đều được nhìn theo hai
góc độ nghiêng và từ trên xuống, nhưng chủ yếu là nhìn nghiêng – có thể nói hai
góc độ này đã tạo điều kiện tốt nhất cho con mắt ước lượng sự vật và nêu rõ đặc
điểm sự vật có tính trang trí đối xứng cao và cũng là điều kiện tốt để diễn tả
sự vật bằng nét viền. Một đặc điểm khá cơ bản của lối tạo hình trên gốm hoa nâu.
Nét tạo hình
của hoa văn trang trí trên gốm hoa nâu thừa kế và nâng cao – có sáng tạo – trên
đồ gốm đất nung khi áp dụng cho một hình thức trang trí mới – kết hợp nét chìm
với màu. Nét được sử dụng chủ yếu để xây dựng hình tượng. Hiếm có những do dự,
gò gẫm hay chắp vá. Từ nét đầu đến nét cuối dù có biến dạng đến đâu thì vẫn trôi
chảy một cách nhất quán và điều này góp phần vào cái tươi mát sinh động cho họa
tiết. Điều đáng lưu ý là nét trên hầu hết gốm hoa nâu thuộc loại nét “bè” một
cạnh nổi rõ, còn cạnh kia mờ dần vào thân sản phẩm, đó là một sáng tạo mới đối
với việc sử dụng trang trí nét chìm.
Nếu như để tạo
mảng đậm nhạt, sinh động, có “mầu” cho hoa văn trên gốm đất nung, người ta phải
sử dụng linh hoạt các “mảng nét khác chiều”, thì ở gốm hoa nâu, mầu với đúng
nghĩa của nó đã phát huy tác dụng của mình với hiệu quả cao nhất. Chỉ một màu
nâu đơn sơ, ấm cúng với cách sử dụng độ dày mỏng, mảng to nhỏ, độ chảy nhòe,… đã
tạo cho gốm hoa nâu có vẻ đẹp độc đáo xứng đáng với tên gọi của nó. Màu nâu đậm
đà của dân tộc, có mặt trên nhiều lãnh vực của cuộc sống đã tạo cho đồ gốm một
vẻ đẹp mới, gần gũi gợi cảm xúc sâu xa về màu sắc, tình yêu quê hương đất nước
của con người Việt Nam đương thời.
Thưởng thức vẻ
đẹp của đồ gốm hoa nâu là thưởng thức vẻ đẹp của hình khối mập mạp khỏe mạnh,
mạch lạc, đa dạng của nghệ thuật điêu khắc, kết hợp với vẻ đẹp của đường nét,
màu sắc, bố cục hoa văn, với những mảng hình đơn giản, nội dung hoa văn gần gũi
cuộc sống, như những bức tranh dân gian đẹp của nghệ thuật hội họa truyền thống.
Vẻ đẹp của sự kết hợp hài hòa giữa các thủ pháp nghệ thuật điêu khắc với nghệ
thuật hội họa cũng như kỹ thuật men và mầu là vẻ đẹp tiêu biểu cho gốm sành xốp
Việt Nam.
Cũng trong
thời Lý – Trần còn có một loại gốm tiêu biểu khác là gốm men ngọc. Ngay tên gọi
cũng đã nói lên vai trò của men trong sản phẩm – phần lớn gốm men ngọc là loại
gốm nhỏ như bát, đĩa, liễn, ấm. Hoa văn trang trí thường là chạm chìm hoặc đắp
nổi vừa, nhưng chủ yếu là chạm nét chìm hoặc chạm chìm để tạo họa tiết nổi. Toàn
bộ sản phẩm đều được tráng men khá dày so với các loại men khác. Tuy men dày,
nhưng đặc điểm của men là trong như ngọc nên đã tạo cho men một chiều sâu cần
thiết để làm cho hoa văn chạm khắc chìm ẩn hiện như hoa gấm.
Điều đáng chú
ý là độ đậm nhạt của hoa văn không phải do sự cản sáng tạo nên như trên gốm đất
nung, do mầu tạo nên như trên gốm hoa nâu, mà là do độ chảy dồn men dày mỏng do
nét chạm khắc nông, sâu tạo nên. Đây là một đặc điểm khác của nghệ thuật trang
trí gồm bằng men mầu.
Gốm men ngọc
thường được ca ngợi như là một đặc sản của phương Đông. Vẻ đẹp của đồ gốm men
ngọc là vẻ đẹp của sự phối hợp giữa hoa văn chạm chìm tinh tế phóng khoáng được
men phủ dày mỏng khác nhau – phụ thuộc độ nông sau của nét ẩn hiện lung linh, có
độ trong và màu xanh như ngọc sâu thẳm, vẻ đẹp của nó mang tính chất quí phái.
Trước đây,
người ta cho rằng gồm men ngọc là của Trung Quốc đưa sang, nhưng những cứ liệu
khai quật của những nhà khảo cổ trong nửa đầu thế kỷ 20 này ở Thanh Hóa, Nam
Định, Hà Nội với những chồng bát đĩa men ngọc chảy dính vào nhau, đã bác bỏ ý
kiến sai lầm đó và khẳng định ở Việt Nam đã có một thời kỳ sản xuất gốm men ngọc
mà chủ yếu là dưới thời Lý – Trần. Sau này bí truyền bị mai một khi gốm hoa lam
thịnh hành. Từ năm 1960 khoa gốm trường Cao đẳng Mỹ thuật công nghiệp cũng đã
sản xuất được gốm men ngọc mà công thức chủ yếu là sử dụng men đất.
Từ thế kỷ XIV
đồ gốm hoa nâu và men ngọc mất dần địa vị độc tôn, mà nhường lại vị trí của mình
cho đồ gốm hoa lam với phong cách nghệ thuật mới, xuất phát từ nguyên liệu và kỹ
thuật trang trí mới. Đồ gốm hoa lam đã nhanh chóng tiến đến đỉnh cao của mình ở
thế kỷ XV – XVI, mà người ta hay nói đến hoa lam Lê – Mạc.
Người ta gọi
là gốm hoa lam vì các họa tiết trang trí trên sản phẩm được vẽ bằng màu lam (từ
o xít cô ban) với lối phóng bút và công bút rất linh hoạt. Với gốm hoa lam nghệ
thuật gốm Việt Nam có thêm một vẻ đẹp mới đưa nghệ thuật gốm bước vào giai đoạn
trang trí bằng lối vẽ gần với nghệ thuật hội họa, nói một cách khác nghệ thuật
hội họa thông qua nét bút lông đã có điều kiện để phổ biến các kỹ thuật riêng
của mình lên đồ gốm.
Về chất liệu,
gốm hoa lam phần lớn là loại gốm xốp hoặc sành trắng. có độ nung cao hơn và kỹ
thuật hoàn nguyên tốt hơn nên xương đất có chớm chảy tuy không phải như đồ sứ và
mầu men trắng ngả ánh xanh chứ không trắng ngà như trên gốm hoa nâu và điều này
làm cho hoa văn màu lam càng có cơ sở để khoe sắc.
Đồ gốm hoa lam
đã đống góp, cho nghệ thuật gốm Việt Nam một số loại sản phẩm mới, làm phong phú
thêm loại hình sản phẩm, đặc biệt là sản xuất với số lượng lớn các sản phẩm
thông dụng như bát nhỏ (bát cơm), bát to (bát canh), bát chiết yêu, be rượu, lọ
hoa và những đồ thờ cúng như chân đèn, lư hương, con giống mà đồ gốm đất nung và
đồ gốm hoa nâu ít chú ý đến.
Đặc điểm tạo
dáng của gốm hoa lam so với các loại gốm trước nó là sản phẩm có xu hướng vươn
lên theo chiều cao. Nếu tính tủ lệt giữa chiều cao của sản phẩm và chiều ngang
rộng nhất – thường là ở thân – ta thấy rõ điều đó.
Nếu ở gốm hoa
nâu thể chính chiếm rất rõ và thường hình dáng có xu hướng hình ống (thạp,
liễn…) thì ở gốm hoa lam thể chính thường được tạo ra nhỏ bé hơn, thanh thoát
hơn và đường cũng nhiều hơn để phù hợp với thể phụ là cổ và chân bị bóp nhỏ và
kéo cao lên. Nhận xét này không chỉ phù hợp với các loại sản phẩm như chân đèn,
bình rượu… mà ngay cả trên bát, đĩa cũng thấy rất rõ: những bát, đĩa chân cao
rất độc đáo mang phong cách riêng của loại gốm này.
Nhìn nhận vẻ
đẹp tạo hình của gốm hoa lam cần phân biệt thành hai loại khác nhau, có vẻ đẹp
riêng phù hợp với vị trí sử dụng của nó. Đó là loại sản phẩm dùng trong gia đình
có vẻ đẹp giản dị thanh thoát như bát đĩa, ấm, chén, bình rượu… và loại sản phẩm
dùng trong việc thờ cúng như chân đèn, lư hương… với phong cách tạo hình phức
tạp hơn,hình dáng thường bị chia cắt thành nhiều khối nhỏ và trang trí khá phức
tạp, đôi khi làm phá thể trọn vên của hình dáng. Đây là vẻ đẹp tinh xảo, công
phu phù hợp với lối trang trí dày đặc họa tiết, tôn vẻ linh thiêng cho sản phẩm
nơi thờ cúng, phù hợp với lối tạo dáng con tiện trong các đình, chùa.
Trang trí trên
gốm hoa lam là bước phát triển mới trên cơ sở “tô nâu” trên gốm hoa nâu, được
chấp cánh bở cách viết và vẽ phóng bút và công bút của chữ nho đương thời, tạo
nên lối trang trí vẽ hoa trên đồ gốm Việt Nam.
Với cách vẽ
phóng bút và công bút nét rất linh hoạt đã tạo cho gốm hoa lam một phong cách
trang trí hoa văn bay bướm, sinh động hơn. Các họa tiết được thể hiện tả ý nhiều
hơn là tả thực.
Ngoài một số
nôi dung đề tài trang trí như trên gốm hoa nâu, men ngọc, một số đồ gốm hoa lam
ta còn thấy khá phổ biến loại họa tiết mới như chim phượng, chim khách, rồng
mây, kỳ lân, long mã. Điều khá thú vị là nếu ở gốm hoa nâu các loại chim thường
thấy được diễn tả ở tư thế đi, đứng, thì ở gốm hoa lam hoàn toàn khác hẳn. Tư
thế bay là tư thế được gốm hoa lam chọn để diễn tả vẻ đẹp của các loài chim: mà
không chỉ có chim bay, mây bay và cả đến hoa lá cũng diễn tả gần như đang bay
vậy bởi thế mà có nhiều họa tiết vẽ hoa lá mà ta có thể nhìn ra như những đám
mây bay. Điều chắc chắn là lối vẽ phóng bút mới có đầy đủ khả năng diễn tả các
hình tượng này. Đối với các loại hoa lá, đồ gốm hoa lam cũng cách điệu theo lối
hoa dây, bố cục thành những đường diềm, phổ biến là hoa cúc, hoa sen. Phần bụng
hoặc chân của sản phẩm thường được vẽ thủy ba hình xoắn ốc có dáng dấp tương tự
như những cánh hoa sen đặt liền nhau.
Cách vẽ nét để
tạo hình họa tiết cũng rất phong phú, với những nét dài ngắn, to nhỏ, chấm, phẩy
tùy theo ngòi bút lông khi được nhấn hay nâng và cũng từ đó mà cùng trên một nét
bút độ đậm nhạt của mầu cũng khác nhau, tạo nên sự linh hoạt và sức sống cho họa
tiết.
Nhìn chung
cách bố cục trang trí trong gốm hoa lam có tính chất dàn trải khắp sản phẩm theo
những đường diềm, nhưng do cách sắp xếp và bố cục họa tiết khéo léo vừa độ nên
vẫn nêu được chủ đề chính, tạo nên sự hài hòa của các họa tiết, ta không thấy bị
rối.
Nếu như trong
một số trang trí trên những sản phẩm lớn còn bị hạn chế sự phóng khoáng thì trái
lại, trên những sản phẩm thông dụng như bát đĩa, bình rượu, ấm… các họa tiết
được vẽ một cách thành thạo, không bị một công thức nào ràng buộc. Họa tiết như
được thuộc lòng, đặt bút vẽ là chúng sẵn sàng tuôn chảy vì vậy nét vẽ phóng
khoáng, gần như múa bút, họa tiết vẽ ra cô động về nét, nhưng lại khá chính xác
về hình, có sức sống và bay bướm. Ngay cả những đồ thờ cúng thì nét vẽ và hình
tượng vẫn phóng khoáng với nhân sinh quan làn mạnh, lạc quan, yêu đời, không bị
nghệ thuật cung đình chi phối.
Trên một số
sản phẩm gốm hoa lam ta còn thấy kết hợp lối trang trí đắp nổi họa tiết rất tinh
vi, thường là hình rồng, phượng, kỳ lân… ảnh hưởng của loài gốm chạm nổi rất
phát triển cùng thời. Loại gốm này hoàn toàn phục vụ việc thờ cúng với men nhiều
màu theo lối “tam sắc”, “ngũ sắc” như các mầu nâu, vàng úa, rêu xanh chảy nhòe
mà cơ sở của nó cũng là sự đua đòi lối chạm gỗ cựu thịnh cùng thời.
Ở nhiều nước
khác như Trung Quốc – gốm hoa lam thường được vẽ phong cảnh hay một bức tranh về
một sự tích theo sử sách, ở gốm hoa lam của Việt Nam, lối trang trí này không
được áp dụng.
Tuy nhiên, ở
những thế kỷ gần đây, gốm hoa lam có phần sa sút – có thể do chạy theo số lượng
và một phần số tầng lớp trên ưu thích dùng đồ Tầu. Rõ nét nhất là trong thời
Nguyễn Gia Long và thời kỳ thực dân Pháp thống trị, vẻ bay bướm của họa tiết,
mầu xanh dịu dàng của hoa lam được thay thế bằng những hoa lá cành tả thực, khô
cứng, ít chất trang trí. Điều này để nói rằng, không phải tất cả các đồ gốm hoa
lam hiện có đều đẹp.
Nói tốm lại,
thưởng thức vẻ đẹp của gốm hoa lam là thưởng thức vẻ đẹp của gốm sành trắng với
lối trang trí vẽ hoa trực tiếp bằng bút lông. Thưởng thức cái đẹp của những bức
“phác thảo” tài nghệ, cái đẹp của sự cân đối, phóng khoáng nhưng chân chất và
đầy sức sống. Nó không thu hút người xem bằng những đường nét chi tiết hay bằng
những hình vẽ gò gẫm, tả thực, mà nó lôi cuốn bởi bút pháp tả ý, bay bướm với
màu lam dịu dàng ẩn dưới lớp men trắng ngả xanh, bóng. Nhiều sản phẩm cho ta cảm
giác của một “bức tranh” vẽ lụa hay mực nho trên giấy bản và điều này giúp ta
nghiên cứu thêm về hội họa đương thời.
Một vẻ đẹp
khác của đồ gốm Việt Nam đó là đồ sứ, một bước phát triển cao hơn về kỹ thuật
sản xuất và những tiến bộ mới về phương pháp trang trí trên sản phẩm.
Sản phẩm sứ có
đặc điểm cơ bản là trắng, trong, mỏng, nhẹ, họa tiết trang trí nhiều màu – không
thua kém bất cứ màu nào đã dùng trong hội hoa.
Cho đến nay
người ta chưa xác định chính xác đồ sứ của ta có từ bao giờ, bởi nếu chỉ tính
đến độ chảy của xương đất thì nhiều đồ sành trắng của ta đã ở dạng “bán sành sứ”
hoặc một số đồ sứ mang họa tiết trang trí của ta nhưng còn nghi ngờ về xuất xứ
của nó…
Tuy nhiên nếu
nhìn vào một số đặc điểm cơ bản của đồ sứ, như chất liệu, phương pháp thành
hình, phương pháp nung, phương pháp trang trí nên men sứ đã nung… thì tôi cho
rằng đồ sứ ở Việt Nam chỉ mới ra đời khoảng 20 năm trở lại đây từ ngày có nhà
máy sứ Hải Dương (1960).
Như vậy đồ sứ
cổ ta chưa có, nhưng cũng cần nêu một vài đặc điểm vẻ đẹp để ta chưa có, nhưng
cũng cần nêu một vài đặc điểm vẻ đẹp để ta so sánh với các gốm cổ khác.
Về tạo dáng đồ
sứ thường có đặc điểm là mảnh dẻ, thanh thoát, trau chuốt để phù hợp chất liệu
mỏng, nhẹ và trắng trong. Đặc biệt là sự hoàn thiện về bộ và đồng bộ cho sản
phẩm khi có mục đích chung là phục vụ ăn hoặc uống…
Về trang trí
là sự phát triển mới của kỹ thuật dựa trên những phát minh quan trọng về kỹ
thuật hóa chất và làm mầu. Ngoài các thủ pháp mà các loại gốm kể trên đã sử
dụng, đồ sứ còn áp dụng các thủ pháp khác như dán hoa (decane), phun hoa, in
hoa, đổ mầu dưới men hoặc trên men. Đặc biệt trang trí trên đồ sứ cho ta điều
kiện sử dụng không thua kém gì các thủ pháp của hội họa.
Cả hình dáng,
trang trí và men trên đồ sứ toát lên vẻ đẹp trí tuệ, khoa học, vẻ đẹp của một
sản phẩm mỹ thuật công nghiệp với lối sản xuất hiện đại, cơ khí hóa, đồng loạt.
Những phân
tích trên đây, nhằm đi vào những đặc điểm chính của nghệ thuật gốm Việt Nam, mà
chủ yếu là gốm dân dụng. Qua đó ta thấy được sự đa dạng trong lĩnh vực nghệ
thuật gốm với nhiều chất liệu và thủ pháp tạo hình, trang trí khác nhau, tạo nên
những vẻ đẹp riêng biệt – sẽ không có một công thức chung, duy nhất cho mọi vẻ
đẹp của đồ gốm Việt Nam, bởi ta biết rằng trong nghệ thuật kể cả nghệ thuật tạo
hình thì chất liệu, thủ pháp nghệ thuật khác nhau thì không thể có chung một
hiệu quả thẩm mỹ. Qua đó cũng chứng minh thêm những đặc điểm chung của gốm Việt
Nam mà tôi đã nêu ra ở phần đầu bài.
Tuy nhiên
những phân tích trên chỉ mới đi vào nghệ thuật gốm gia dụng vì nó có số lượng
lớn và gần gũi mọi người, nhưng nó cũng không thể đại diện cho vẻ đẹp của các
loại gốm mỹ thuật, gốm kiến trúc, tượng gốm rất phong phú trên đất nước ta. Vấn
đề nay, tôi xin được trình bày trong một chuyên đề khác mới đầy đủ và thỏa mãn
được.
(Nguồn: Trần Khánh Chương (2001), Gốm Viết
Nam từ đất nung, đến sứ,
Nxb Mỹ Thuật,
Hà Nội )