|
GIỚI THIỆU VỀ BẢO TÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh, tọa lạc 65 Lý Tự Trọng Quận 1, trên
khuôn viên rộng 2 ha, giới hạn bởi bốn con đường Lý Tự Trọng,
Pasteur, Lê Thánh Tôn và Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Tòa nhà bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh
Tòa nhà do kiến trúc sư người Pháp - Foulhoux vẽ kiểu và thiết kế,
được xây dựng năm 1890 theo kiểu cổ điển - phục hưng: mặt tiền của
tầng lầu mang đường nét Tây phương, nhưng phần mái lại mang dáng dấp
Á Đông. Mục đích ban đầu của tòa nhà là Bảo tàng Thương mại trưng
bày những sản vật trong nước. Vì thế ở hai bên cửa chính có hai
tượng nữ thần Thương nghiệp và Công nghiệp và các phù điêu trang trí
đắp nổi đều lấy biểu tượng thần thoại Hi Lạp cùng với cây cỏ và thú
vật vùng nhiệt đới. Nhưng khi xây xong, tòa nhà trở thành tư dinh
Thống đốc Nam kỳ Henri Eloi Danel.
Chỉ trong
năm 1945, tòa nhà đã năm lần thay đổi chủ nhân. Tháng 3 năm 1945,
Nhật đảo chính Pháp, Thống đốc Yoshio Minoda (người Nhật) chiếm dinh
này. Tháng 7 năm đó, phát xít Nhật mới giao dinh này cho chính phủ
Bảo Đại - Trần Trọng Kim. Viên Khâm sai Nam bộ Nguyễn Văn Sâm ở
chẳng bao lâu thì ngày 25-8-1945, lực lượng cách mạng hạ cờ quẻ ly
kéo cờ đỏ sao vàng và từ đây tòa nhà trở thành trụ sở của Ủy ban
Hành chánh Lâm thời Nam bộ, rồi của Ủy ban Nhân dân Nam bộ. Ngày 10
-9 -1945, Trung tá B. W Roe (phái bộ quân sự Anh) ngang ngược chiếm
dinh, buộc Ủy ban Nhân dân Nam bộ phải dời về dinh Đốc lý (nay là
trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ hí Minh).
Sau khi
chiếm lại Sài Gòn, từ ngày 23-5-1947, Pháp giao dinh này cho Lê Văn
Hoạch làm trụ sở chính phủ Nam kỳ tự trị và sau đó chuyển cho Trần
Văn Hữu làm dinh Tổng trấn (sau đổi thành Thủ hiến) Nam phần (từ
2-6-1948).
Sau hiệp
định Genève 1954, Ngô Đình Diệm dùng tòa nhà này làm dinh Quốc khách.
Ngày 27-2-1962, dinh Độc
Lập bị ném bom, Ngô Đình
Diệm dời phủ tổng thống sang đây. Hai mươi tháng sau, ngày
1-11-1963, quân đội Sài Gòn làm đảo chính, Ngô Đình Diệm bị lật đổ.
Năm 1966, dinh Độc Lập xây lại xong, tòa nhà này được làm trụ sở của
Tối cao Pháp viện. Sau ngày 30-4-1975 ít lâu, Ủy ban Nhân dân Thành
phố quyết định sử dụng toà nhà này làm Bảo tàng Cách mạng Thành phố
Hồ Chí Minh ngày 12-8-1978, đến ngày 13-12-1999 được đổi tên thành
Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh như hiện nay.
Nội dung trưng bày gồm 9 phần cố định:
1.
Phòng “Thiên nhiên – khảo cổ”: giới
thiệu vị trí địa lý, địa chất, khoáng sản, địa hình, khí hậu, động,
thực vật, hệ thống sông ngòi, đời sống của cư dân cổ cách đây 3000 –
2000 năm với những công cụ lao động: rìu đá, cuốc đá, trang sức, đồ
minh khí, hình thức mai táng tìm được ở các di tích khảo cổ
Bến Đò, di tích Gò Sao, Rỏng Bàng, Gò Cát, Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt,
Giồng Am, các di tích trong nội thành của thành phố Hồ Chí
Minh.
2.
Phòng “Địa
lý - hành chính Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh” Với
sưu tập bản đồ, biểu đồ, hình ảnh, hiện vật phòng trưng bày khái
quát quá trình hình thành và phát triển của Sài Gòn – thành phố Hồ
Chí Minh về mặt địa lý, hành chính. Từ một đô thị được quy hoạch cho
50.000 dân đến hiện nay thành phố có trên 6 triệu dân. Các bản đồ cổ
lập nên từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVII, cho thấy mạng sông rạch
là yếu tố cơ bản của cấu trúc thành phố. Hiện nay, hệ thống sông
rạch ấy được thay thế bằng những đại lộ (đường Hàm Nghi, Nguyễn Huệ…)

3.
Phòng “Thương
cảng, Thương mại - dịch vụ”: Với
hơn 527
hiện vật, 36 ảnh và 10 bản đồ, bảng trích phòng
trưng bày "Thương
cảng - thương mại dịch vụ Sài gòn - thành phố Hồ Chí Minh" giới
thiệu khái quát về vai trò trung tâm kinh tế của Sài Gòn đối với khu
vực phía Nam nói riêng và cả nước nói chung qua các vấn đề: Hệ
thống cảng Sài Gòn,chợ Bến Thành và những chợ xưa, cửa hàng chạp phô
của người Hoa xưa, các hiện vật đo lường xưa nay, hệ thống giao
thông: với các bến xe, ga tàu hỏa, sân bay...

4.
Phòng "Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp"
giới thiệu một số nghề thủ công truyền thống và đôi nét về công
nghiệp tại Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh cuối thế kỷ XIX đến đầu
thế kỷ XX. Với gần 300 hiện vật, hình ảnh trưng bày về các nghề gốm,
nghề đúc đồng, nghề kim hoàn, nghề dệt, nghề chạm khắc gỗ... Một số
cơ sở công nghiệp đầu tiên của thành phố những năm cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX, các khu công nghiệp tập trung giai đoạn 1954 - 1975,
các khu công nghệ cao hiện nay....
5.
Phòng "Văn hóa Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh"
giới thiệu phong tục, tín ngưỡng, nghệ thuật và giáo dục của Sài Gòn – Thành phố
Hồ Chí Minh. Phòng trưng bày mô tả đám cưới truyền thống của bốn
nhóm dân tộc Việt, Chăm, Hoa và Khmer, tục ăn trầu, tín ngưỡng thờ
Mẫu, thờ Thành hoàng, thờ Thổ Địa - thần Tài,
sưu tập nhạc cụ , trang phục, đạo cụ và hình ảnh của một số vở cải
lương nổi tiếng của sân khấu cải lương , nghệ thuật sân khấu truyền
thống của dân tộc Khmer, đặc biệt phòng trưng bày còn giới thiệu các
tư liệu về nền giáo dục ở Sài Gòn – nơi truyền bá chữ quốc ngữ và báo chí
được xuất bản đầu tiên tại Việt Nam.
6.
Phòng “Đấu
tranh cách mạng 1930 - 1954” nêu
bậc các phong trào đấu tranh chính trị từ khi có Đảng, gương hy sinh
của Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam – Đ/c Trần Phú,
của người thanh niên Lý Tự Trọng hy sinh ở tuổi 17, đó là khởi nghĩa
Nam Kỳ ở Bà Điểm, Hóc Môn ngày 23/11/1940 với sự hy sinh của các
chiến sĩ Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng
Phong… phòng trưng bày tái hiện phần nào quang cảnh ngày độc
lập tại quảng trường Norodom – Sài Gòn ngày 2/9/1945 và cuộc kháng
chiến 9 năm sau ngày độc lập ấy đến sự kiện vang dội hoàn cầu –
chiến thắng Điện Biên Phủ.
7.
Phòng “Đấu tranh cách mạng 1954 - 1975” trưng
bày các các vấn đề: hội nghị Genève về việc chấm dứt chiến tranh ở
Đông Dương năm ngày 21/7/ 1954, phong trào Đồng Khởi năm 1960,
địa đạo Củ Chi, sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam 20/12/1960, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968,
chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngày
6/6/1969, Hội nghị Paris ngày 27/1/1973, chiến dịch Hồ Chí
Minh 1975, phong trào đấu tranh của các nước trên thế ủng hộ nhân
dân Việt Nam.
8.
Phòng "Kỷ vật kháng chiến"
trưng bày những hiện vật, di vật đồng hành với cuộc sống và chiến
đấu của cán bộ, chiến sĩ, liệt sĩ trong 30 năm kháng chiến trường kỳ
gian khổ trên mảnh đất "thành đồng" vì độc lập dân tộc thống nhất tổ
quốc, bao gồm các nhóm hiện vật: Di vật của liệt sĩ trinh sát Trung
đoàn Gia Định, hiện vật của văn công tiền tuyến, trang bị cá nhân
của các chiến sĩ Trường Sơn, máy ảnh, máy quay phim của phóng viên
chiến trường, kỷ vật trong tù của các chiến sĩ cách mạng, mô hình
bếp Hoàng Cầm, ký họa kháng chiến...
9.
Phòng "Tiền Việt Nam"
giới thiệu 1086 hiện vật bao gồm sưu tập tiền kim loại, tiền giấy,
tiền thưởng qua các thời kỳ lịch sử ở Việt Nam như tiền thời phong
kiến (thế kỷ X đến thế kỷ XX), tiền Đàng Trong, tiền thưởng, tiền
kim loại và giấy bạc Đông Dương, giấy bạc Việt
Nam từ năm 1945 đến nay, vĩ
đếm tiền, khối tiền xưa (tiền đựng vào hũ để cất giấu), hình ảnh các
công đoạn đúc tiền thời phong kiến, một số văn tự liên quan đến tiền...
|