Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh

65 Lý Tự Trọng

65 Lý Tự Trọng, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh
Email: baotangtphcm@gmail.com
Điện thoại: 028.38.299.741
Fax: 028.38.298.250

Giờ mở cửa
7g30-17g từ thứ Hai đến Chủ nhật
(Cả ngày Lễ và Tết)


Bản đồ đường đi

Video

Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh

Website liên kết

VỀ

 HAI ĐĨNH BẠC MANG NIÊN HIỆU “TỰ ĐỨC”

Hoàng Anh Tuấn

 Diệp Minh Cường

 (Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh)

            Trong sưu tập đĩnh bạc thời phong kiến Việt Nam tại Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh có 2 đĩnh bạc mang niên hiệu của một vị vua thời Nguyễn gắn với địa danh Sơn Tây. Đó là hai đĩnh bạc mang niên hiệu vua Tự Đức (1848-1883)

          Giới thiệu về hai đĩnh bạc Tự Đức:

Hai đĩnh bạc được đúc theo hình hộp chữ nhật có sáu cạnh.

Đĩnh bạc thứ nhất kích thước: dài:110mm, rộng 31mm, dày 16mm. Mặt chính lõm, cạnh đĩnh bạc tạo thành gờ nổi có đóng sáu chữ Hán nổi theo kiểu chữ chân, nằm trong 3 khung chữ nhật nhỏ hàng dọc cách đều nhau hai chữ một: “Tự Đức, Đinh Mão, Sơn Tây”. Cạnh trái bên dưới đóng dấu hai chữ Hán nổi: “Ngôn ?” “Bình”. Cạnh bên phải có khắc chìm hai chữ Hán mất nét gần giống chữ Hợp (?) Lưng đĩnh bạc uốn cong về hai đầu, để trơn và không có ký hiệu

Đĩnh bạc thứ nhất cân nặng: 380,7g (mười lạng)

 

                               

 

Đĩnh bạc thứ hai có kích thước hơi sai biệt so với đĩnh bạc thứ nhất, có chiều dài 112mm, rộng 30mm, dày 16mm. Mặt đĩnh có dòng chữ “Tự Đức, Mậu Dần, Sơn Tây”, cạnh bên phải đĩnh bạc có đóng một dấu nhỏ chữ Hán “Tăng”, cạnh trái đóng dấu nhỏ chữ Hán “Ngọ”. Lưng đĩnh bạc hơi uốn cong về hai đầu, để trơn và cũng không có ký hiệu.

Đĩnh bạc thứ hai cân nặng: 383.7g. (mười lạng)

 

 

Hai đĩnh bạc đã được lưu hành trong dân gian một thời gian lâu do vậy đều có nhiều vết trầy xước, móp, chữ đóng nổi ở mặt đĩnh bạc bị mòn; thậm chí ở đĩnh bạc thứ nhất tình trạng sứt, mẻ nặng hơn, thậm chí hai chữ Hán “Đinh Mão” đã bị mòn vẹt gần mất chữ, và về mặt cân lượng cũng có hao hụt hơn so với đĩnh bạc thứ hai

Trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam, kim loại đồng được sử dụng chính yếu để đúc tiền, tuy nhiên có những giai đoạn hưng thịnh, kinh tế phát triển, hàng hóa dồi dào, buôn bán sầm uất, …nhu cầu lưu thông hàng hóa khiến tiền tệ với tư cách là hàng hóa đặc biệt trở nên khan hiếm đáp ứng yêu cầu đó. Trước áp lực trên, ngoài việc tăng cường đúc và lưu hành các loại tiền đồng; để làm giảm nhu cầu về nguyên liệu đồng sử dụng để đúc tiền ngày càng khan hiếm bởi nguyên liệu cạn kiệt hoặc khai thác khó khăn, Nhà nước phong kiến cho đúc ra thỏi ( đĩnh) bạc. Những thỏi (đĩnh) bạc không lưu thông thông dụng như tiền đồng, nó được sử dụng trong những giao dịch lớn giữa các thương buôn và những tổ chức tín dụng “tiền ngân hàng” thời phong kiến (thương điếm, tiền trang), đóng thuế… và đặc biệt sử dụng nhiều trong những chi tiêu của Nhà nước. Đĩnh bạc thời kỳ này cũng được xem là của cải, một một phương tiện cất giữ để tích lũy sự giàu có cho đến khi việc sử dụng kết thúc khi người Pháp xâm chiếm Đông Dương.

Ở Trung Quốc, từ dưới thời nhà Tống (960-1280) bạc được sử dụng trong các khu định cư lớn thay cho tiền tệ giữa các “ngân hàng”, thương nhân và các giao dịch chính thức khác. Không rõ bạc đã được đúc ở Việt Nam vào thời kỳ nào song việc sử dụng kim loại quý như bạc, vàng cũng đã được ghi nhận trong Đại Việt sử ký toàn thư (1272-1697) năm Kỷ Tỵ, niên hiệu Đoan Khánh thứ 5 (1509) vua “đặt chức Ngự tượng giám, ngự mã giám…Hai giám ngự mã, ngự tượng đấu sức, cầm gậy đánh nhau từ cửa Thanh Dương đến ngoài cửa Thái Miếu, vua lấy làm thích thưởng cho tiền và bạc” (1:48)

Như vậy ở dưới thời Lê Sơ, tiền tệ với hình thức là kim lọai quý như bạc và vàng đã xuất hiện tuy nhiên không phổ biến và chưa chính quy trong lĩnh vực tiền tệ. Đến thời Tây Sơn, tuy chỉ tồn tại thời gian ngắn ngủi ( 1787-1802) nhưng việc đúc tiền và bạc đĩnh cũng đã được thực thi. Bằng chứng là vào năm Gia Long thứ hai, tháng 5 năm Quý Hợi (1803) Nguyễn Văn Khiêm, Bộ Hộ Bắc thành có tâu trình về việc bạc thoi thời Tây Sơn có pha nhiều thiếc, kẽm, thậm chí có thoi không đủ cân lạng, do đó xin đúc bạc mới có khắc chữ để làm tin.

Cho đến Nhà Nguyễn việc đúc bạc đĩnh của Nhà nước phong kiến mới được ghi nhận một cách chi tiết trong chính sử. Thực Lục có chép: “Nhâm Thân, Gia Long năm thứ 11 (1812). Tháng 10. Bắt đầu đúc bạc đĩnh một lạng. Vua bảo bộ Hộ rằng: chế định tiền bạc là để giàu nguồn của cho dân dùng. Trước kia Nhà nước đúc bạc trung bình, đĩnh 10 lạng ngang tiền 28 quan; gần đây đều đã thông dụng, nhưng đem bạc đổi tiền hay đem tiền đổi bạc thì đều dùng đĩnh muời lạng làm hạn nên khi số xuất nhập lẻ loi thì dùng không tiện. Vậy sai đúc thêm bạc đĩnh đề ban hành” (3:169)

Giai đoạn đầu triều Gia Long đã cho đúc bạc đĩnh trong đó có bạc đĩnh 10 lạng để phục vụ cho nhu cầu thanh toán, song như trên, do nhận thấy những hạn chế khi sử dụng mệnh giá lớn quy đổi tiền thành đĩnh bạc hoặc ngược lại triều đình đã cho đúc bạc đĩnh với trị giá thấp hơn để tiện cho việc thanh toán. Cho đến tháng 3 năm Nhâm Ngọ, Minh Mệnh thứ 3 (1822) triều đình cũng cho Cục tạo tác ở Bắc Thành theo quy tắc đúc sáu hạng đĩnh bạc từ 1 lạng đến 1đồng cân để “thông dụng trong dân gian”, như vậy việc đúc bạc đĩnh không chỉ dừng lại ở loại 1 lạng mà các vua Nguyễn cũng chú trọng đến việc thông dụng hơn các phương tiện thanh toán bằng việc cho đúc bạc lẻ.

Từ đời Thiệu Trị cho đến Tự Đức, thỏi ( đĩnh) bạc đều được đúc mới với quy chuẩn khác. Bạc thoi (đĩnh) thời Thiệu Trị được đúc ngay vào những năm đầu. Sử chép: vào tháng 7 năm Giáp Thìn (1844) vua “Ban kiểu những thoi bạc mới chế cho các địa phương trong Kinh và ngoài các tỉnh. Kiểu cũ hơi dầy, kẻ làm gian dễ trà trộn. Đến đây định kiểu mới, hơi mỏng so với kiểu cũ. Bèn hạ lệnh ban hành. Năm Tự Đức thứ 1,  từ tháng 1 năm Mậu Thân (1848) triều đình đã  “ đúc bạc đĩnh kiểu mới (Hạng nào nên đúc in niên hiệu thì tuân theo hiệu mới để đúc)” (5:103-105)

          Như vậy, việc đưa bạc vào lưu thông dưới thời Nguyễn được tiến hành chính quy và khá mạnh mẽ. Bằng chứng là ở các đời vua  từ Gia Long đến Tự Đức đều có những văn bản ghi nhận việc đúc bạc của Nhà nước. Tuy nhiên về quy chuẩn thì có những điểm khác biệt được thay đổi qua các thời kỳ.

Với bạc đĩnh một lạng dưới thời Gia Long về quy cách được ghi nhận như sau:    “Dùng bạc đủ tuổi nặng một lạng, sáu mặt đều có in dấu và chữ. Mặt trên văn tròn, mặt dưới văn vuông, một mặt in bốn chữ “Gia Long niên tạo”, một mặt in bốn chữ “Tinh ngân nhất lạng”, một mặt in ba chữ “Trung bình hiệu”, một mặt in sáu chữ “Trị tiền nhị quan bát mạch” (3: 169)

Một loại bạc khác được đúc dưới thời Gia Long đó là bạc phiến 5 tiền. Về lọai bạc này Đại Nam thực lục chép: “Ất Hợi, Gia Long năm thứ 14 (1815). Tháng 6, đúc phiến bạc trung bình. (Mỗi thoi nặng 5 đồng cân, hai mặt đều in chữ, một mặt in bốn chữ “Gia Long niên tạo” một mặt in sáu chữ “Trung bình ngân phiến ngũ tiền” Trị giá 1 quan 4 tiền) (3:169)

Riêng về những thoi bạc có đóng dấu “trung bình” hay “trung bình hiệu” đã ra đời vào năm Gia Long thứ hai, tháng 5 năm Quý Hợi (1803)  Vua hạ lệnh cho Trần Bình Ngũ, đồ gia Bắc Thành rằng:“ Các trấn ở Bắc Thành là nơi sản xuất vàng bạc, dân hay trà trộn làm gian, chỉ trộn chút ít mà lợi rất to, tệ nạn giả mạo như thế phải trừ. Nay cho người làm Trung Bình hầu, phàm vàng thoi, bạc thoi công hay tư, có dấu  “trung bình” của ngươi thì mới được thông dụng. Ngươi nên cẩn thận. Kẻ làm gian xảo thì trị tội” (2:129) 

Và, cũng từ đó có thể căn cứ vào việc có hay không có dấu “Trung binh” mà phân biệt thoi bạc có được Nhà nước xác nhận hay không.

Dưới thời Gia Long, nhà Đồ gia ở kinh thành Huế có 3 con dấu bằng sắt, Cục tạo tác ở Bắc Thành có 6 con dấu bằng sắt để đóng vào vàng bạc. Ba con dấu ở Kinh khắc chữ Công Chính, Thập (chỉ vàng 10 tuổi), Bát ngũ (chỉ vàng tám tuổi rưỡi). Vàng từ 10 lạng hết thảy đều phải đóng dấu đó. Sáu con dấu ở Bắc Thành khắc chữ Trung bình, Thập lạng, Giáp (hạng tốt), Khán (đã kiểm tra), Thực (không phải giả), Công. Nhân dân có vàng bạc phải đem xét nghiệm để đóng những chữ ấy vào mới được tiêu dùng. Các viên chức ở Cục, Sở phải thu tiền đóng dấu chữ.

Về các chữ đóng trên vàng bạc, tháng 6 năm Nhâm Thìn, Minh Mệnh thứ 13 (1832) Nhà nước định lại chữ hiệu đóng vào vàng bạc, Vua theo lời tâu của Bộ Hộ mà ra lệnh làm những dấu mới để đóng chữ vào vàng bạc. “ Nội vụ phủ có 2 dấu sắt: một dấu khắc chữ can chi năm đúc, một năm một lần khắc lại, một dấu khắc chữ Nội thảng (kho tiền nội phủ). Các địa phương cũng đều có 2 con dấu, một dấu khắc can chi năm đúc, một dấu khắc tên tỉnh hoặc trấn, đều dùng lối chữ nổi. Phàm vàng bạc ở kho từ đĩnh một lạng trở lên đều có in vào mặt đĩnh. Về vàng tốt lại có tám con dấu sắt riêng khắc những chữ: thất, bát, cửu, thập, thất ngũ, bát ngũ, cửu ngũ, thắng thập để in sau lưng đĩnh vàng ấy, thợ xem sắc vàng bạc cũng cho tự chế một con dấu sắt khắc một chữ tên mình để in từ bên tả từng đĩnh. Còn dấu bằng sắt khi trước đều thu lại, hủy đi, vàng bạc hiệu cũ vẫn cho dân gian thông dụng.

Vua y lời bàn ấy. Lại thêm ra lệnh phàm vàng bạc, những đĩnh từ 10 lạng trở lên đều in thêm hai chữ “Minh Mệnh” để nêu rõ danh hiệu quan trọng. ( 4: 114)

Có thể thấy, sự kiện định lại quy chuẩn trong in chữ hiệu vào tiền kim loại quý năm Minh Mệnh thứ 13 khá quan trọng. Nếu như dưới thời Gia Long đối với Bạc thoi 1 lạng và bac phiến 5 tiền ngoài niên hiệu của vua, trọng lượngchữ trung bình hiệu thì đến thời kỳ này chữ hiệu in vào vàng bạc có thêm các con dấu để đóng là: “can chi” để nhận biết năm đúc, dấu Nội thảng để phân biệt vàng, bạc giữa Kho nội phủ và Kho các địa phương, tên địa phương đúc bạc, dấu định tuổi vàng bạc, và đặc biệt là cả dấu tên của người thợ giám định chất lượng vàng bạc.

Dưới thời Thiệu Trị, Nhà nước quy định ngoài bạc đĩnh có chữ “Công Giáp”do Cục Tạo tác ở Bắc Thành đúc trước đây đã có thực nghiệm, những kiểu cũ mà dân gian đúc ra không có in dấu tên tỉnh, niên hiệu và chữ “Công Giáp” thì cho đến tháng giêng năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) hết được lưu hành và buộc phải do Nhà nước đúc lại.  Tuy nhiên, lệnh cấm này cũng không được thực hiện triệt để vì cho đến dưới thời Tự Đức triều đình vẫn cho phép lưu hành các loại đĩnh bạc 10 lạng đã lưu dụng từ trước mặc dù không có ký hiệu.

Một số đĩnh bạc 10 lượng thời Minh Mạng mà Bảo tàng hiện lưu giữ sau lưng có khắc chữ Thập lạng nhưng ở những đĩnh bạc 10 lạng thời Tự Đức không có những ký hiệu này. Đây cũng là một thay đổi cho ta những nhận diện khác nhau về bạc đĩnh các thời kỳ.

Cho đến thời Tự Đức, việc đúc bạc trong dân chúng đã không còn tự do như trước nữa, cùng với việc đúc bạc đĩnh kiểu mới, tháng 7 năm Tự Đức thứ 1(1848) triều đình một lần nữa nhắc lại quy định “Bạc đĩnh 1 lạng phải do Nhà nước đúc ra, nên y theo lệ trước, cấm dân đúc riêng. Còn đĩnh bạc 10 lạng mẫu cũ tuy không có in dấu niên hiệu, tên tỉnh và dấu chữ công giáp trừ ra không phải là hàng giả mạo thì cùng với bạc lẻ, phiến, khối đều được nhất luật tiêu dùng để cho được tiện. Người nào đem thứ bạc ấy nộp thuế cho Nhà nước thì cứ theo kiểu mới mà đúc lại để tỏ rõ phân biệt” (5:70-110)

Thực Lục chép: Bính Dần, Tự Đức năm thứ 19 (1866), “Lập thêm sở đúc vàng bạc ở trong Kinh và các tỉnh ngoài và đặt tượng mục. (Từ trước đến nay cả nước chỉ đặt sở lò đúc ở 4 tỉnh Gia Định, Bình Định, Nghệ An, Hà Nội, đến nay vì in đúc không đủ và các hạt trưng thu hoặc đặt mua, hoặc giải giao nhận cất, phải có người chuyên làm việc xem từng hạng đọ cân, nhân thế chuẩn cho phủ Thừa Thiên, tỉnh Thanh Hóa và các tỉnh kiêm hạt ở Nam Kỳ, Bắc Kỳ ( như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên thì đặt ở Quảng Nam và Bình Định, Hà Nội, Ninh Bình, Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang thì đặt ở Hà Nội, Sơn Tây) đều đặt sở lò đúc, rồi cho quan địa phương sở tại chọn lấy 1 người thợ bạc tinh xảo cấp bằng sung làm tượng mục trật tòng cửu phẩm, không có ngạch thợ thì cho tuyển mộ (6:85).

Năm Mậu Thân, Tự Đức thứ 21(1868) thể thức làm bạc đĩnh dưới thời Tự Đức ra đời khá muộn màng: “Đĩnh 1 lạng theo cách cũ khoảng năm Gia Long, một mặt in chữ tên tỉnh, sau in tên thợ đúc, đĩnh 10 lạng vẫn in chữ “Trung bình hiệu” (7:188)

Bạc thoi đã được đưa vào lưu thông chính quy dưới thời Gia Long với trị giá lớn mười lạng ngang với 28 quan tiền đồng tiếp sau là một lạng ngang với 2 quan 8 để giải quyết tiêu dùng buôn bán lẻ, tuy nhiên chưa thực sự phổ thông. Cho đến thời Minh Mệnh việc đúc những thoi bạc có giá trị nhỏ hơn từ 5 đồng cân tới 1 đồng cân cho thấy việc tiêu dùng bạc thoi (đĩnh) ngày càng phổ biến hơn thời trước.

Qui chuẩn về bạc đĩnh đã được lập thời Gia Long và tiếp sau có những sửa chữa, thay đổi, hai đĩnh bạc Tự Đức được giới thiệu ở trên với 6 chữ Hán đúng theo quy chuẩn: hai chữ đầu: niên hiệu vua, hai chữ thứ hai năm tháng (can chi), hai chữ thứ 3: nơi đúc bạc. Niên hiệu vua tùy theo quy định từng thời kỳ: dưới thời Gia Long thì bạc đĩnh 1 lạng cũng được ghi niên hiệu Vua, nhưng đến Minh Mệnh thì lọai bạc đĩnh 10 lạng do triều đình đúc mới ghi niên hiệu.

Về hai chữ “ Sơn Tây” tên tỉnh được đóng vào mặt của đĩnh bạc qua tư liệu cho thấy vào năm Tự Đức 19 (1866) ngoài 4 tỉnh có sở đúc vàng bạc từ các đời vua trước nay do yêu cầu lớn nên đặt thêm 4 sở đúc tiền ở Quảng Nam và Bình Định (miền Trung), Hà Nội, Sơn Tây (miền Bắc)

Có thể thấy, việc đóng dấu trên thoi (đĩnh) bạc với địa chỉ sản xuất rõ ràng nhất là dưới thời Tự Đức và hai đĩnh bạc trên với niên hiệu Đinh Mão (1867), Mậu Dần (1878) hoàn toàn phù hợp với những gì sử liệu đã ghi; các chữ Hán nhỏ được đóng ở cạnh trái và phải của đĩnh bạc theo chúng tôi là tên của các thợ đúc bạc.

Như vậy, ngay dưới triều Nguyễn từ giai đọan đầu khi mới thiết lập chính quyền, việc đúc bạc đã được chú ý và qua các triều đại chuẩn hóa dần các quy định. Cho đến thời Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức việc ban hành bạc đĩnh, những luật lệ ngăn cấm hiện tượng đúc giả, những quy định về hình thể thoi bạc cho tới việc quy định giá giữa bạc thoi Nhà nước và bạc của thổ ngân tại các vùng dân tộc cũng như những định chế tạo tác bạc ngày càng chi tiết hơn. Triều Nguyễn muốn tiến tới nắm chắc và thống nhất tổ chức về mọi quy định trong tiền tệ nên đã có ban hành những điều lệ tỉ mỉ về Cục Bảo tuyền, Cục Bảo hóa và những quy định trong việc đúc và lưu hành giao thương. Tuy nhiên, việc nới lỏng cho dân tự đúc đĩnh bạc cũng như kéo dài thời han lưu hành của bac đĩnh tự đúc trong dân mãi cho đến đời Tự Đức cho thấy sự uyển chuyển trong chính sách tiển tệ của triểu Nguyễn giai đoạn này.

Cũng phải nhận thấy, trong suốt lịch sử phong kiến Việt Nam, việc lưu hành đồng tiền của Việt Nam cũng song song với việc sử dụng đồng tiền Trung Quốc, điều này thấy rõ qua những phát hiện khảo cổ tại nhiều nơi: đồng tiền Trung Quốc và tiền Việt Nam đều có sự hiện hữu. Một vài tác giả Trung Quốc trong những nghiên cứu về tiền tệ và thương mại cổ gần đây đã đề cập đến một số tiêu bản tiền, thoi (Đĩnh) bạc thời Nguyễn được lưu hành ở Vân Nam và một số nơi khác ở Trung Quốc thời Thanh. Và như vậy, với việc lưu thông tiền tệ được chấp nhận một cách mặc nhiên, việc các thương nhân Việt Nam và Trung Quốc  đều sử dụng thoi (đĩnh) bạc, của hai nước làm phương tiện thanh toán trong giao dịch ngoại thương là điều dễ hiểu. Các tác giả cũng đề cập đến hiện tượng “chảy máu bạc” từ Việt Nam qua Trung Quốc (thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20) xuất phát từ những quy định không sát thực trong tỷ lệ hối đoái của chính quyền phong kiến Việt Nam . Vấn đề này chúng tôi sẽ giới thiệu trong một số bài viết sau.

Nghiên cứu về đĩnh bạc thời Nguyễn cũng như tiền cổ thời Nguyễn đóng góp chung cho việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử kinh tế thời kỳ phong kiến nói riêng, đồng thời là những cứ liệu khoa học cho việc giám định tiền tệ thời kỳ này.

 

Tài Liệu Dẫn. 

1. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên…- Đại Việt sử ký toàn thư tập IV, NXB KHXH , Hà Nội 1972.

2. Quốc sử quán triều Nguyễn- Đại Nam thực lục chính biên, tập III, NXB Sử học Hà Nội, 1963

3. Quốc sử quán triều Nguyễn- Đại nam Thực Lục chính biên, tập IV, NXB Sử học Hà Nội, 1963,

4. Quốc sử quán triều Nguyễn-Đại Nam thực lục chính biên, tập XI, NXB Sử học Hà Nội, 1963

5.Quốc sử quán triều Nguyễn- Đại Nam Thực Lục chính biên, tập XXV, NXB Sử học Hà nội, 1963,

6.Quốc sử quán triều Nguyễn- Đại Nam Thực Lục chính biên, tập XXVII, NXB Sử học Hà Nội, 1964

7. Quốc sử quán triều Nguyễn -Đại Nam thực lục chính biên, tập XXXI, NXB Sử học Hà Nội, 1964

Cập nhật ngày 19-11-2009
Xem nhiều nhất
Số lượt truy cập:2254617
Sơ đồ site