Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh

65 Lý Tự Trọng, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh
Email: baotangtphcm@gmail.com
Điện thoại: 028.38.299.741
Fax: 028.38.298.250

Giờ mở cửa
7g30-18g từ thứ Hai đến Chủ nhật
(Cả ngày Lễ và Tết)


Bản đồ đường đi

Video

Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh

Website liên kết

VỀ

VỀ HẦM BÍ MẬT TRONG DINH GIA LONG VÀ SỰ KIỆN ĐẢO CHÍNH

 TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM NGÀY 1 THÁNG 11 NĂM 1963

 

 

TS. Đặng Văn Thắng

Ths. Trần Hạnh Minh Phương

Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh

 

    Đưa Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống bù nhìn, Mỹ hy vọng sẽ bình định, kiểm soát miền Nam trong một thời gian ngắn  nhưng kết quả hoàn toàn ngược lại, chế độ độc tài gia đình trị đã không thu phục được giới quân nhân ngụy. Những hành động của Ngô Đình Nhu đối với Phật giáo càng làm cho giới Phật tử căm phẫn. Lực lượng cách mạng do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo ngày càng lớn mạnh, gây nhiều tổn thất cho chính quyền Sài gòn. Chính phủ Mỹ bắt đầu đặt lại vấn đề với chính quyền Ngô Đình Diệm và ngấm ngầm “bật đèn xanh” cho phe đảo chính hoạt động nhằm gián tiếp thay Mỹ lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, thực hiện ý đồ tahy ngựa giữa dòng của đế quốc Mỹ.

    Biết được tình hình chính trị ngày càng bất ổn theo chiều hướng bất lợi cho mình, từ năm 1962, Ngô Đình Diệm đã bí mật cho xây dựng hầm bên dưới phủ Tổng thống (dinh Gia Long). Có rất nhiều tài liệu văn học viết về căn hầm gọi là bí mật này dưới dạng nhật ký, tiểu thuyết… khiến nhiều người hiểu sai hoặc mơ hồ về đường hầm. Rất may, có một ít nguồn tư liệu gốc lưu trữ tại Trung lưu trữ Quốc gia II có  đề cập đến vấn đề căn hầm dưới dinh Gia Long và nhờ thế đã tìm thấy phần nào ánh sáng dưới đường hầm.

   Sự kiện hai trung úy Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử  lái hai máy bay khu trục AD 6 ném bom dinh Độc Lập mưu sát gia đình Tổng thông làm hư hại nặng cánh trái của dinh khoảng 7 giờ sáng, ngày 27/2/1962 làm Ngô Đình Diệm phải dời về dinh Gia Long. Từ sau cuộc đảo chính không thành, Diệm rất lo cho số phận của mình nên khi ở dinh Gia Long và quyết định cho xây dựng hầm bí mật để trú ẩn khi có bất trắc.

   Về căn hầm trong dinh Gia Long có nhiều tài liệu thêu dệt không đúng sự thật, tạo nên sự ly kỳ. Trong quyển “Ông cố vấn”, “Đệ nhất phu nhân”, tạp chí xưa và nay các số 58 B năm 1999, số 220  năm 2004 đều cho rằng  kiến trúc sư Võ Đức Diên là người thiết kế hầm, sau khi hoàn thành bản vẽ Võ Đức Diên bị Ngô Đình Nhu đầu độc bằng ly cà phê để đảm bảo tính bí mật của hầm. Hồi ký này viết rất chi tiết như thật rằng từ căn hầm dưới dinh có đường hầm thông ra ngoài. Đường hầm thứ nhất từ dinh đâm ra ngã sông Sài Gòn trổ lên hành dinh Hải quân một cửa ra, rồi đi thẳng đến Sở thú là cửa cuối. Đường thứ hai từ dinh đến nhà thờ Đức Bà, trổ lên một cửa ra bên trong. Đường thứ ba, từ dinh Gia Long chạy thẳng vào Chợ Lớn. Công việc đào hầm được giao cho 200 tù binh không tung tích, 10 toán mỗi toán 20 người luân phiên đào. Số tù binh này được đưa tới bằng một xe bít bùng, mỗi người đều bị bịt mắt lại khi tới trong phòng mới mở ra. Công việc được bắt đầu từ 12 giờ khuya, bên ngoài không ai hay biết [7: 287 - 303].

   Khác với các tác giả trên, Phạm Tường Hạnh cho rằng căn hầm do thống đốc người Pháp Hoeffel chỉ đạo xây dựng, theo thiết kế của kỹ sư  Pháp giống hầm chỉ huy của chiến lũy Maginot trên đường biên giới giữa nước Pháp và nước Đức [5:4]

   Do yêu cầu chuẩn bị trưng bày, mở cửa đón khách tham quan hầm, Bảo tàng thành phố đã cử cán bộ đến cục lưu trữ để tìm tư liệu về đường hầm. Do tính chất bí mật của đường hầm, nên hồ sơ lưu trữ về đường hầm không nhiều, không có bản thiết kế và dự trù kinh phí ban đầu mà chỉ tìm thấy một hồ sơ thuyết trình vì sao chi phí thực tế xây cất cao hơn dự toán do phó giám đốc Nha kiều lộ lập (Phông Phủ Thủ tướng – 21.747) bao gồm tờ trình chi phí công tác xây cất hầm đến ngày 3 tháng 4 năm 1963 kèm theo bản tổng kết chi tiêu, bảng so sánh công tác dự trù và công tác thực hiện, 1 họa đồ sơ bộ, 2 họa đồ công tác đã thực hiện. Và hồ sơ, số 15675 – Phông phủ Thủ tướng bao gồm các công văn về việc kết toán công tác xây dựng hầm sau ngày Diệm bị lật đổ (1.11.1963). Tuy nhiên, qua nghiên cứu hai hồ sơ này cũng giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề về hầm bí mật trong dinh Gia Long.

   Là người thiết kế xây dựng mới dinh Độc Lập và hầm theo phong cách mới, phá bỏ dinh toàn quyền Đồng Dương do thực dân Pháp xây dựng trước đây, xóa dấu vết của thực dân cũ trong dinh sau trận bom năm 1962, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ là người được Ngô Đình Diệm tín cẩn giao cho việc vẽ bản thiết kế xây dựng  hầm bí mật tại dinh Gia Long. Qua hồ sơ lưu trữ (Phông Phủ Thủ tướng 15675) chúng ta biết sau khi Ngô Viết Thụ đi Mỹ,  kỹ sư Kiều lộ Phan Đình Tăng – phó Giám đốc Nha Kiều Lộ – người duy nhất được giao nhiệm vụ thi công,  kiểm soát, nghiên cứu lại đồ án và hoàn tất bản vẽ như hiện nay. Hầm được nhà thầu Trương Đăng Khoa xây dựng từ  tháng 5 năm 1962 đến ngày 30.10. 1963 nhưng đến ngày 13.5.1964 mới hoàn tất việc kết toán công trình với tổng kinh phí 12.514.114 $. Chi phí thi công cao hơn dự toán do tường dày đến 1m hơn dự kiến 0,4 m, làm thêm cầu thang B, một hầm để máy phát điện, phòng truyền tin và một hầm nhỏ đựng các vật có mùi hôi hoặc cần được cất kín.

   Bản vẽ của kỹ sư Phan Đình Tăng trong hồ sơ thanh toán chi phí xây dựng trùng khớp với hiện trạng căn hầm hiện nay. Hầm được đào sâu xuống mặt đất khoảng 4 mét, đúc bằng xi măng cốt sắt (170 kg sắt/ 1m3 bê tông) rất kiên cố, tường dày 1 m các loại trọng pháo và bom 500 kg nếu oanh tạc vào dinh Gia Long cũng không thể làm sập hầm. Hầm có 6 cửa bằng sắt,  đóng mở bằng bánh lái như tàu thủy để xoay, phía trong còn có chốt sắt thật lớn để cài. Phần mặt đất phía trên nắp hầm được ngụy trang bằng những chậu cây cảnh. Trong hầm có hệ thống thông gió, hệ thống điện thắp sáng, nước sạch và cống dẫn nước thải, nước mưa.

   Tổng diện tích mặt bằng hầm 1392,3 m2 (30,6 x 45,5). Từ trên xuống (theo hướng đường Lý Tự Trọng) hầm theo hai đường. Cầu thang A (hướng đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa) xuống có hai phòng liền nhau. Phòng ngoài là phòng khách, diện tích 12,8 m2 (3,2 x 4) đặt chiếc bàn tròn, một cái ghế bành, sát tường là một chiếc tràng kỷ. Kế bên là phòng vệ sinh, diện tích 12,8 m2 (3,2 x 4), theo bản vẽ có một lavabo và một bàn cầu. Theo cầu thang B (hướng đường Pasteur) đi xuống, đầu tiên gặp phòng máy đèn, diện tích 13 m2 (4 x 3,25) có một máy phát điện, bên trong là phòng để vật có mùi hôi hoặc cât kín, diện tích 2,25 m2 (1x 2,25 m). Từ phòng này xuống gặp phòng ông Ngô Đình Nhu, kế bên là phòng ông Ngô Đình Diệm, diện tích 17 m2 (4,25 x 4) có đặt một chiếc bàn vuông, một cái bệ nhỏ và hệ thống máy thông tin liên lạc gồm: một bình ắc quy, radio lớn, radio xách tay, một máy thu phát tín hiệu RCA, giữa hai phòng có hồ nước (2m x 0,65). Hầm có một lối ra một lô cốt hướng đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và 6 lỗ thông gió, hai lỗ thoát nước bẩn (vị trí theo bản vẽ).

   Đây là một công trình quan trọng và có tính cách đặc biệt. Công tác thi công gặp nhiều khó khăn vì công trình chôn dưới đất mà phải thực hiện trong mùa mưa, ở chỗ chật hẹp, khó ra vào, lại phải cho phù hợp với kiến trúc có sẳn của dinh Gia Long… có thể thấy như việc xây thêm hai phần kiến trúc khá lớn ở phía sau ngôi nhà nhằm che cửa hai cầu thang A và B dẫn từ lầu 1 và tầng trệt xuống hầm bí mật.Mặt khác bản thiết kế ban đầu có đôi chỗ không phù hợp hay bổ sung thêm hạng mục khi thi công như làm thêm cầu thang B nên vừa thực hành vừa kiểm soát lại và tiếp tục nghiên cứu đồ án lại. Hơn nữa với tính cách bí mật của đường hầm nên kỹ sư Phan Đình Tăng không có cộng sự phải tự nghiên cứu, tự thực hiện. Do yêu cầu bí mật, các giấy tờ liên quan đến việc xây dựng hầm trước ngày 1.11.1963 đều tránh nêu từ  “hầm” mà chỉ là “công tác xây cất ở dinh Gia Long” hay “ngân khoản cho dinh Gia Long” và sau khi Diệm đổ, công văn Thủ tướng chính phủ gởi Tổng trưởng Bộ Công chánh và giao thông ngày 12 tháng 12 năm 1963 chính thức viết “về việc kết toán công tác hầm trú ẩn tại dinh Gia Long”. [11]

   Cho đến ngày 1.11.1963 đường hầm còn một hạng mục rất cần thiết có trong dự trù nhưng chưa hoàn thành là đặt hệ thống máy quạt để điều hòa không khí trong hầm dù 6 máy quạt đã nhập về để ở Sở Nội dịch. Mãi đến ngày 2 tháng 2 năm 1964, Tổng trưởng Bộ Công chánh và Giao thông có công văn trình Thủ tướng chính phủ xin đặt các máy quạt xuống hầm. [13]

      Hầm được xây dựng trong bí mật nhưng đến ngày 1.11.1963 nó không còn là bí mật nữa quân đảo chính đã tấn công vào đây, hệ thống điện, nước trong hầm bị phá vỡ nhiều nơi, bàn ghế, máy móc nằm ngỗn ngang.

   Hầm được xây dựng trong thời gian gấp rút nên chưa trang bị các vật dụng tiện nghi nhưng Ngô Đình Diệm cũng đã kịp sử dụng dù trong thời gian ngắn. Khi xuống hầm, các nhà báo đã thấy một lá cờ trắng, một số tài liệu viết tay ghi lại những cuộc điện đàm tại phòng của Ngô Đình Diệm – nơi đặt hệ thống thu phát tín hiệu có thể trước khi đi ra vùng Chợ Lớn Ngô Đình Diệm đã xuống hầm sử dụng hệ thống thông tin này để gọi các binh chủng và lực lượng bán quân sự đến tiếp cứu.

   Trong bảng chiết tính chi phí xây dựng hầm còn có số tiền trả nhân công là 150.000 $ [11] cho thấy việc mô tả dùng tù binh xây hầm như các tài liệu nói trên là không có cơ sở.

   Hầm bí mật trong dinh Gia Long là một bằng chứng về chính quyền bù nhìn tay sai Ngô Đình Diệm vo cùng bi thảm và việc thay ngựa giữa dòng của đế quốc Mỹ

Chính quyền Ngô Đình Diệm là chế độ tài gia đình trị, theo hiến pháp ban hành năm 1956 thì mọi quyền hành của Quốc gia đều nằm trong tay Tổng thống . Tổng thống giữ quyền Hành pháp.

-Về phương diện ngoại giao: Tổng thống ký kết các điều ước và Hiệp định quốc tế. Bổ nhiệm các sứ thần Việt Nam và tiếp nhận Uỷ nhiệm thư của đại diện ngoại giao các nước.

-Về phương diện dân sự: Tổng thống điều khiển tất cả các cơ quan hành chính trong nước, được quyền bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức thuộc ngành hành chính hay chuyên môn

-Về quân sự: Tổng thống là tư lệnh tối cao các lực lượng quân sự

-Về tư pháp: Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm.

-Về phương diện tài chính: Tổng thống lập dự án ngân sách chuyển sang Quốc hội thảo luận

   Sự độc tài của Ngô Đình Diệm khiến Đại sứ Trần Văn Chương không thể không từ chức, ông viết thư trình lên chính phủ Mỹ “Tôi không thể tiếp tục đại diện một Chính phủ không biết đến ý kiến của tôi…” [17]

Chính quyền Ngô Đình Diệm hoàn toàn lệ thuộc Mỹ “từ đạn dược đến nhiên liệu quốc phòng cũng đều cung cấp có giới hạn. Nếu sự viện trợ bị ngưng, một tuần sau, dầu không ai chống đối, chính quyền cũng bị sụp đổ” [19]

   Thi hành chính sách độc tài gia đình trị nên một mặt Ngô Đình Diệm đưa cả gia đình mình vào như Ngô Đình Nhu – Trần Lệ Xuân, Ngô Đình Cẩn, mặt khác sẵn sàng triệt hạ các phe chống đối như triệt kẻ thù. Bên cạnh đó, chính sách của Ngô Đình Diệm đi lại quyền lợi của nhân dân nên chính quyền ngày càng mất lòng dân, gây sự bất mãn trong dân chúng.

Tháng 4 năm 1959, Quốc  hội của Ngô Đình Diệm thông qua luật 92, ban hành ngày 6 tháng 5 năm 1959 mang tên “luật 10 -59” về thành lập toà án quân sự đặc biệt, tội xử chỉ có hai mức: tử hình và khổ sai chung thân… Không lúc nào máy chém thịnh hành hơn lúc này. Máy chém lê về tận làng ấp, kèm theo lời đe dọa của Ngô Đình Diệm “Ai liên quan đến cộng sản sẽ bị mất đầu”… những vụ hành hung gây nên làn sóng căm phẩn trong nhân dân[15: 309, 310]

   Trong bài viết nhan đề “Cuộc tranh đấu của Phật giáo đưa đến cách mạng ngày 1.11.1963” đã điểm những hành động đàn áp Phật giáo của Ngô Đình Diệm. Ngày 7.5.1963 chính phủ ra lệnh triệt hạ cờ và đèn Phật giáo treo khắp chùa, tư gia trong toàn quốc dịp lễ Phật Đản 2.507. Ngày 8.5.1963, tại Huế dùng võ lực giải tán Phật tử tập hợp trước đài phát thanh làm 8 người chết và 142 người  bị thương. Ngày 3, 4, 5.6.1963, các chùa ở Huế bị lực lượng võ trang phong tỏa.  [3].  

   Chính quyền Ngô Đình Diệm còn đốt bàn thờ, bắt nhân dân cải đạo, cho quân đội, cảnh sát đào bới mộ, chặt đầu, chân tay thi thể trong nghĩa trang của những người theo Phật giáo… Ngô Đình Diệm đã gây nên làn sống căm phẩn cực đột trong nhân dân. Sự kiện Thích Quảng Đức tự thiêu  xuất hiện trên trang nhất các báo lớn ở Sài Gòn và thế giới. Với thông tin này “bộc lộ toàn bộ sự tàn bạo của Diệm đối với Phật giáo” [1:39] từ đó chính phủ đặt lại vấn đề “tại sao tiếp sức cho một bạo chúa” [1:39]

   Trong hồ sơ tối mật của chính quyền Mỹ đã viết về tình hình chính trị suy yếu của chính quyền Ngô Đình Diệm “không khí nghi kỵ, sự bất bình ngấm ngầm lan rộng đối với chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, tệ đoan tham nhũng, sự bất bình bị kiềm chế trong quân đội… sĩ quan trong quân đội đã hai lần mưu sát Tổng thống Diệm hồi tháng 11 năm 1960 và tháng 2 năm 1962…” [6].

   Chính quyền Ngô Đình đã không thu phục được lòng dân, tướng lĩnh dưới quyền bất mãn, ngấm ngầm thực hiện cuộc đảo chính, điều đó dẫn đến việc Ngô Đình Diệm phải tính đến việc làm nơi trú ẩn an toàn cho mình và gia đình.

   Sự kiện đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1.1.1963 là kết quả của một chuỗi nguyên nhân trước đó. Như Bradley SO’Leary & Edward Lee viết “Tổng thống Ngô Đình Diệm và em là Ngô Đình Nhu: hai nhân vật thế lực nhất tại Nam Việt Nam. Diệm đã công khai thách thức những ước muốn chính sách của Kenedy, trong khi Nhu sử dụng cảnh sát chìm để giết, đánh đập, tra tấn và tống giam nhóm đa số Phật giái hiền hòa. Nhu cũng điều hành mạng lưới thuốc phiện ở Nam Việt Nam và cung cấp nguồn sản phẩm vô tận cho tập đoàn bạch phiến Marseille tại pháp mà mặt hàng này sau cùng được bán sang Mỹ”. Ông cho rằng “Ngày 2.11.1963 Nhu và Diệm bị hạ sát trong một vụ đảo chính được hậu thuẩn tích cực bởi Kenedy và các đầu não trong Bộ ngoại giao của ông ta ” [1]

   Trong bài viết “Vì sao hai ông Nhu – Diệm không thoát khỏi vòng vây quân cách mạng?” đã phân tích nguyên nhân dẫn đến cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm ngày 1/11/1963.

   Nguyên nhân sâu xa khiến Tổng thống Kennedy ra tay lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Diệm có những biểu hiện hợp tác với Pháp, hất cẳng Mỹ với hàng loạt sự kiện nối tiếp nhau. Ngày 26 tháng 6 năm 1961, ông Nhu đã hội kiến ngoại trưởng Pháp Cuove de Murville. Việc tìm cách bắt tay với Pháp của Ngô Đình Diệm quá lộ liễu đều không qua mắt CIA. Đối với Hoa Kỳ, cuộc gặp gỡ tạo và là một trong những động lực năm 1963 thúc đẩy Mỹ lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm [18]

   Ngày 22.6.1963, trong một phiên họp Nội các tại điện Elysée, tổng thống DeGaulle tuyên bố sẳn sàng giúp Diệm. [17] Như giọt nước cuối cùng làm tràn ly, chính quyền Ngô Đình Diệm bất chấp sự khuyến cáo của Hoa Kỳ, thẳng tay dùng biện pháp cứng rắn dẹp cứ điểm chống đối của Phật giáo tại chùa Xá Lợi và các chùa ở Sài Gòn – Gia Định.

   Sự suy yếu của chính quyền Diệm gây bất lợi cho Mỹ, nên từ tháng 5 năm 1963 Nhà Trắng bắt đầu lên kế hoạch với các tướng lĩnh là âm thầm lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm bởi “chế độ áp bức của Diệm không thể thắng được cuộc chiến và đề nghị rằng giải pháp duy nhất là dùng vũ trang lật đổ Diệm” [1:294] (đó là lời ông Trần Văn Chương - bố bà Nhu nói với Forrestal mùa xuân năm 1963).

   Đại sứ Cabot Lodge đầu tiên có chuyển để Tổng thống Ngô Đình Diệm một đề nghị yêu cầu cải tổ cơ cấu của chế độ, uyển chuyển đường lối đối nội, mở rộng guồng máy của chính quyền cho các phe phái chính trị tham gia, chấm dứt cuộc đàn áp Phật giáo [17] nhưng Ngô Đình Diệm không quan tâm đến những lời cảnh báo đó và tiếp tục những hành động đàn áp Phật giáo.

   Cuộc đảo chính do 3 tướng lĩnh điều khiển là Dương Văn Minh (Minh lớn), Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim [4] chỉ diễn ra trong hai ngày. Nhan đề “Những giờ phút lịch sử của ngày cách mạng 1.11.1963” trên báo Tiền tuyến đã tường thuật khá chi tiết diễn biến cuộc đảo chính:

13 giờ trưa ngày 1.11.1963 quân đảo chính chiếm đóng Tổng nha cảnh sát Quốc gia, Tổng Nha Cảnh sát Đô thành, sở truyền tin của bộ Nội vụ, đài phát thanh Quốc gia mà không gặp sự kháng cự nào đáng kể. Đến 13 giờ 05, quân đảo chính tiến chiếm Bộ chỉ huy Lực lượng đặc biệt.14 giờ 10, hai phi cơ khu trục xuất hiện trên không phận Sài gòn. 16 giờ 30, đài phát thanh Sài gòn loan báo Hội đồng Tướng Lãnh đã đứng ra lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Trước tình hình đó, Diệm gọi điện thoại cầu cứu đại sứ Cabot Lodge. Đại sứ Mỹ vẫn hứa sẽ bảo đảm an ninh cho Diệm. Tiếng súng nổ khắp nơi nhưng chưa mấy kịch liệt. 20 giờ 15 phút, Diệm, Nhu từ hầm trú ẩn đi ra cổng bên phải ở đường Pasteur dinh Gia Long lên chiếc xe De Chevaux theo đường Pasteur, Lê Thánh Tôn, đường Đồng Khánh (Trần Hưng Đạo B) đến một biệt thự ở Chợ Lớn của Mã Tuyên – một thương gia người Hoa. 18 giờ 01, thành Cộng hòa bị hạ.19 giờ 40 quân đảo chính hoàn toàn làm chủ ở Đô thành Sài gòn và Chợ lớn. Dinh Gia Long đang bị bao vây.

   Trước 4 giờ sáng, ngày 2.11.1963, quân đảo chính thực hiện một cuộc điều quân đại qui mô về hướng dinh Gia Long. Các thiết vận xa và chiến xa từ Chợ lớn, theo đường Trần Hưng Đạo rầm rộ tiến ra Sài gòn. Nhiều đơn vị Thủy quân Lục chiến nương theo hai bên đường Trần Hưng Đạo chạy theo chiến xa.  Đúng 4 gờ, các chiến xa và thiết vận xa rầm rộ tiến vào dinh Gia Long theo các ngõ Pasteur, Công Lý và Lê Thánh Tôn. Các đơn vị Thủy quân Lục chiến bám theo các chiến xa. 6 giờ 45 dinh Gia Long thất thủ.[8]. Đúng lúc quân đảo chính vào dinh Gia Long thì Diệm – Nhu dự lễ ở nhà thờ Francisco Xavier (nhà thờ Cha Tam). Do mật báo, vài phút sau đó, quân đảo chính cho chiếc M.113 chạy đến bắt Diệm – Nhu về dinh và “Ngay khi cánh cửa chiếc xe bọc thép vừa đóng lại Diệm – Nhu liền bị đánh đập, trói gô 4 vó, rồi bị bắn cho tới chết” kết thúc một chế độ độc tài gia đình trị tại miền Nam Việt Nam. [1: 63].

   10 gờ 45, đài Sài gòn loan báo Ngô Đình Diệm đã chết. Ngay ngày 1.11.1963, Hội đồng quân nhân Cách mạng ra quyết nghị “Về việc phế truất Tổng thống Ngô Đình Diệm và giải tán chính phủ” và “Tạm ngưng áp dụng Hiến pháp ngày 26.10.1956 và giải tán Quốc hội”do Trung tướng Dương Văn Minh ký [8:1] Kế đến là sắc lệnh số 26 ngày 16.2.1963 tuyên bố tịch thu tài sản của Ngô Đình Diệm và thuộc hạ [9:2]

   Hai ngày sau, tờ báo quân đội Mỹ “Star and Stripe” in hình hai xác chết Diệm, Nhu do hãng thông tấn UPI chụp được. [2]

Cuộc đảo chính diễn ra trong thời gian hơn một ngày đã lật đổ được một chế độ từng tồn tại 12 năm, điều đó cho thấy chính quyền ấy đã thật “rịu rã”, Sự kiện ngày 1.11.1963 là kết quả tất yếu của chính sách độc tài gia đình trị, việc thẳng tay đàn áp Phật giáo và trừng trị một cách tàn bạo những tướng lĩnh có lỗi, gây sự bất bình trong giới quân nhân. Sự hiện diện của căn hầm kiên cố, quy mô trong dinh Tổng thống là biểu hiện sự yếu kém, bất lực, mất lòng dâ và tướng lĩnh của tổng thống ngụy Ngô Đình Diệm. Số phận của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu thật thê thảm, âu cũng là kết quả của những con người lầm đường lạc lối, tiếp tay cho giặc chia rẽ dân tộc, chia cắt đất nước.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Bradey S’O Leary & Edward Lee, Cái chết của những ông vua thời chiến tranh lạnh – Vụ ám sát Ngô Đình Diệm, Kenedy, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, 2003.

2.Cuộc cách mạng ngày 1/11/1963 đã diễn biến như thế nào?, Tiếng vang, số 251, ngày 1, 2/11/1964.

3.Cuộc tranh đấu của Phật giáo đưa đến ngày cách mạng 1/11/1962, Tiếng nói Dân tộc, Phụ trang kỷ niệm ngày 1/11/1963.

4. David Helbertam, Từ các cuộc bàn thảo kế hoạch đến cuộc tấn công dinh Gia Long vào 18 giờ trưa thứ sáu ngày 1/11/1963, Tia sáng, số 50, ngày 31/10/1968.

5.Phạm Tường Hạnh, Chuyện căn hầm được coi là bí mật trong dinh Gia Long, Sài gòn giải phóng, ngày 16/1/1999.

         6. Làm thế nào để giết một Tổng thống Việt Nam, Phông Phủ Thủ tướng, HS 3046.

7. Hoàng Trọng Miên, Đệ nhất phu nhân, quyển II, Nxb Cửu Long, 1988.

8. Những giờ phút lịch sử của ngày cách mạng 1/11/1963, Tiền Tuyến, số 1054, ngày 1/11/1968.

9. Phông Phủ Thủ tướng, HS 3050, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.

10. Phông Phủ Thủ tướng, HS 15675, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.

11.Phông Phủ Thủ tướng, HS 28537, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.

12. Phông Phủ Thủ tướng, HS 21747, công văn ngày 12/12/1963, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.

13.Phông Phủ Thủ tướng, HS 21747, công văn ngày 29/12/1963, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.

14. Phông Phủ Thủ tướng, HS 21747, công văn ngày 2/2/1964, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.

15.Trần Hải Phụng, Lưu Phương Thanh (chủ biên), Lịch sử Sài Gòn Chợ lớn Gia Định kháng chiến (1945 - 1975), Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1994.

16. Vì sao hai ông Diệm – Nhu không thoát khỏi vòng vây quân Cách mạng, Đồng Nai, số 52, ngày 1/1/1969.

17. Vì sao hai ông Diệm – Nhu không thoát khỏi vòng vây quân Cách mạng, Đồng Nai, số 53, ngày 2/1/1969.

18. Vì sao hai ông Diệm – Nhu không thoát khỏi vòng vây quân Cách mạng, Đồng Nai, số 54, ngày 6/1/1969.

19. Vì sao hai ông Diệm – Nhu không thoát khỏi vòng vây quân Cách mạng, Đồng Nai, số 66, ngày 17/1/1969.

Cập nhật ngày 07-06-2010
Xem nhiều nhất
Số lượt truy cập:2115701
Sơ đồ site